Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Máy tính nhiều rác quá cơ

Không biết máy tính của mọi người thế nào. Mà cái máy của tôi - do công ty trang bị cho nó làm việc nhiều khi khiến tôi rất khó chịu. Chẳng hạn nó nhiều khi cứ bị "nhảy cầu giao", mình chỉ vừa mới bấm vào một cái gì đó rất đơn giản thôi, ấy vậy mà nó cũng đứng lại không làm gì luôn. Hoặc là khi nó cứ liên tục "out" ra khỏi một cái "app" do một đối tác của công ty cung cấp cho mình làm việc.

Có lẽ là tại Rác!

Hôm nay tôi mới dùng cái Disk Cleanup để dọn dẹp ổ đĩa C: đĩa hệ thống.

Trên "task bar" có cái ô Search.



Gõ vào đó chữ Disk là nó đã nhảy ra gợi ý Disk Cleanup luôn rồi. Đồng thời nó cũng hiện luôn gợi ý đến thằng bạn của Cleanup là Defragment and Optimize Drives - Cái này dùng đến sau khi đã dọn hết rác.



Khởi bấm vào để động Disk Cleanup. Rồi chọn ổ đĩa hệ thống là C: rồi bấm OK.



Đợi nó chạy rồi hiện ra hộp thoại như dưới đây.



Lúc này "tick" vào tất cả các mục thì sẽ thấy tổng số dung lượng rác.

Thì thấy rằng là có khoảng 8 GB rác phải dọn mà chủ yếu năm ở Temporary.

Rồi bấm OK. Nó sẽ hỏi lại có chắc là xóa hay không.



Bấm vào Delete files.

Vì dung lượng rác quá lớn, nên đợi cũng khá lâu.

Sau đó lại chạy lại Disk Cleanup để kiểm tra xem nó xóa được bao nhiêu.

Thế nhưng khi tôi thực hiện lệnh Clean thì cái Disk Cleanup lại không thể xóa Temporary. Vì tôi dùng chính Disk Cleanup chạy lại thì thấy Temporary vẫn còn như cũ 8GB.

Lúc này tôi đành nhờ đến một trong số các cháu Ây-Ai. Đặt câu hỏi: "Disk cleanup không xóa được temporary files thì phải làm sao?"

Lập tức các cháu hướng dẫn chi tiết.

1) Nhấn tổ hợp phím Windows + R, tức là nhấn đồng thời cái phím có hình cửa sổ và phím R.



2) Rồi gõ lệnh %temp%

Nó sẽ nhảy ra cái "folder" Temp của người dùng (user) - trong trường hợp của tôi là HANAMN~1>Temp như trong hình.



4) Bấm tổ hợp phím Control + A để chọn tất cả các "files" trong "folder" Temp này.

5) Rồi bấm phím "Delete". Vì tôi có đến gần 8GB nên nó xóa sẽ rất lâu. Tôi phải đi pha cà-phê, ngồi đọc báo, kệ cho nó làm.

Chú ý: Đừng cắt ngang công việc của nó.



Khi nó xóa gần xong thì sẽ bị ngừng lại vì có những "files" và "folder" đang sử dụng (in use) nên nó không xóa được. Nó sẽ hiện hộp thoại có chữ "in use". Khi đó thì bấm Skip là được. Có thể "tick" vào "Do thí for all current items" rồi mới bấm Skip.





6) Tìm vào C:/Windows/Temp - Khi "double click" vào đây, thì sẽ hiện ra thông báo yêu cầu phải là "Admin" (Quản trị). Thông thường máy tính mình dùng một mình, thì không có nhiều "User" nên chỉ cần bấm vào nút Continue là okie.




7) Thực hiện lại bước 4) và 5) ở trên.

Sau khi thực hiện xóa thủ công theo các bước trên. Thì lưu ý rằng các files vừa xóa, theo thông thường là mới chỉ di chuyển sang Recycle Bin (Thùng Rác) thôi.



Bấm chuột phải vào Thùng Rác. Rồi chọn lệnh Empty Recycle Bin.



Lúc này nó lại làm việc rất lâu với dung lượng quá lớn. Lại đi uống cà-phê đọc báo tiếp.



Sau khi Recycle Bin đã dọn sạch, thì thực hiện lại thao tác Disk Cleanup.

Nếu thực hiện xóa tốt, thì chỉ còn lại vài MB thôi như dưới đây.



Lúc này mới thực hiện lệnh Defragment and Optimize Drives.



Chọn ổ địa C: rồi bấm vào Optimize rồi đợi.

Thời xưa việc Defragment này làm rất lâu. Nhưng thời nay do nó tự động làm thường xuyên rồi, nên việc làm bằng lệnh của mình cũng nhanh hơn.

Nếu mỗi ngày Cleanup và Optimize một lần thì chắc đỡ phải đọc báo uống cà-phê.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Chủ đề XKLĐ Nhật

Trước tiên chúng ta điểm qua một số văn bản pháp luật để xem người Nhật có hào hứng với việc lao động nhập cư hay không.

1 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn.

Năm 1945, Nhật thua trận Thế Chiến II, Mỹ vào cai quản Nhật.

Đến năm 1951, nội các lúc bấy giờ ban hành một sắc lệnh hành pháp có tên là 出入国管理令 (Xuất Nhập Quốc Quản Lý Lệnh - tức là sắc lệnh về quản lý xuất nhập cảnh). Tới 1952, sau khi Mỹ trả độc lập cho Nhật, thì Quốc Hội phê chuẩn sắc lệnh đó thành LUẬT. Đến năm 1982, Nhật Bản tham gia công ước tị nạn, nên bổ sung thêm phần 難民認定 (Nạn Dân Nhận Định) vào luật có sẵn rồi đổi tên bộ luật thành 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn.

Trong 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn, người ta qui định rất nhiều loại visa (chứng nhận cho phép vào Nhật), nhưng không có mục visa nào cho lao động phổ thông. Nghĩa là bạn có thể đến Nhật du lịch, nhưng không được đến để lao động phổ thông.

Trong nhiều năm giới chủ tư bản đã cố gắng vận động bổ sung thêm "visa lao động phổ thông" - nhưng đều bị đa số dân biểu và thượng sĩ từ chối. Đây là tính bảo thủ của Nhật. Nếu mở cửa trực tiếp cho lao động phổ thông, sẽ bị coi là thay đổi chính sách nhập cư lớn, gây tranh cãi chính trị từ các nhóm bảo thủ, công đoàn và dư luận lo ngại về "di dân ồ ạt", tội phạm, gánh nặng phúc lợi xã hội. Đa số dân Nhật không muốn điều này. Họ không đần độn như dân Mỹ hoặc Âu khi những nơi đó mở toang biên giới thả nhung nhúc tội phạm vào trong nước.

2 外国人の技能実習の適正な実施及び技能実習生の保護に関する法律 Act on Proper Technical Intern Training and Protection of Technical Intern Trainees Luật Thực Tập Sinh.

Năm 1993, Bộ trưởng Tư Pháp ban hành một chỉ thị về 外国人技能実習制度 TITP (Technical Intern Training Program) Chương Trình Thực Tập Sinh, đánh dấu điểm khởi động cho phép cấp visa thực tập sinh. Tuy nhiên, suốt gần 20 năm từ 1993, người nước ngoài vào Nhật theo diện này khá là ít.

Năm 2010, mới có sửa đổi lớn trong 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn, lần đầu tiên tạo thêm ra visa "技能実習 "Technical Intern Training" Kỹ Năng Thực Tập" riêng biệt.

Năm 2016 Quốc hội mới chính thức ban hành 外国人の技能実習の適正な実施及び技能実習生の保護に関する法律 Act on Proper Technical Intern Training and Protection of Technical Intern Trainees Luật Thực Tập Sinh thay thế cho chỉ thị 1993. Tạo ra sự bùng nổ dân số dưới visa "技能実習 "Technical Intern Training" Kỹ Năng Thực Tập".

Năm 2024, Quốc Hội Nhật đã sử đổi một phần 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn và sửa đổi luật 2016 thành 外国人の育成就労の適正な実施及び育成就労外国人の保護に関する法律" Act on Proper Implementation of Employment for Skill Development and Protection of Foreign Trainees Luật Tuyển Dụng Thực Tập Sinh Người Nước Ngoài, và Bảo Vệ và Phát Triển Kỹ Năng cho Thực Tập Sinh Người Nước Ngoài. Sắp tới năm 2027, Luật sẽ đi vào hiệu lực.

Qua 41 năm (1952~1993) Nhật Bản cấm lao động phổ thông nước ngoài.

Qua 34 năm (1993~2027) Nhật Bản nhập khẩu lao động nước ngoài dưới hình thức trá hình "thực tập sinh".

Lần đầu tiên Nhật Bản đưa từ 就労 Tựu Lao Employment (thuê mướn, tuyển dụng) vào một văn bản Luật do Quốc Hội thông qua. Đủ biết nó khó khăn đến mức nào. Họ không muốn người nước ngoài tràn ngập để biến Nhật Bản thành một cái thứ "dơi không ra dơi, chuột không ra chuột". Nhật Bản vẫn muốn duy trì là một nơi Lịch Thiệp khác hẳn phần còn lại của thế giới.

*****

Một người bạn gửi cho tôi bài viết dưới đây, không đề tên người viết, tôi cũng không rõ là của ai, bài viết có gì đó đáng để suy nghĩ:

[trích]

Nhật Bản không phải thiên đường. Việt Nam không phải địa ngục.

Nhưng xuất khẩu lao động thì đa số rơi vào 1 trong 3 kiểu dưới đây.

Nếu quay lại thời điểm trước khi đi Nhật, bạn sẽ chọn khác không?

1) Cày rồi kẹt vòng lặp vô tận (đa số): Đi Nhật đúng hướng, chấp nhận tầm thường.

Sang Nhật, lao động phổ thông. Làm nhiều, tiết kiệm cực đoan.

Mục tiêu: tiền, không phải kỹ năng, không quan tâm ngôn ngữ, văn hoá, chỉ cần đủ dùng, đủ làm việc.

Về Việt Nam: xả stress, chữa lành. Xài tiền nhanh (nhà, xe, cưới, sĩ). Thu nhập trong nước thấp hơn kỳ vọng.

Kết cục: hết tiền → quay lại Nhật. Lặp lại chuỗi: cày – xài – hết – cày.

2) Cày rồi thoát khỏi vòng lặp (thiểu số): 

– Đi Nhật để nâng cấp bản thân, trước khi nâng cấp tài khoản ngân hàng.

Khác biệt nằm ở trong lúc cày, họ làm thêm 3 việc:

– Học tiếng Nhật tới mức dùng được hoặc khá đến giỏi, không chỉ để sinh tồn.

– Học từ chính công việc mình đang làm, vừa làm vừa hiểu nghề, hiểu cách làm việc và văn hoá.

– Giữ tiền, học cách dùng tiền thông minh. Chấp nhận vừa học vừa làm. Bỏ tiền cho các khoá học, sách vở, kỹ năng mềm. Mấy siêu nhân còn học đại học trực tuyến 👍

Khi về Việt Nam: có vốn + có kỹ năng. Thời gian ở Nhật chỉ là bệ phóng. Việt Nam mới là nơi dùng những thứ đó.

3) Sai ngay từ đầu (đau khổ nhất):

Lý do đi Nhật đã sai từ gốc, vì tư duy ngắn hạn ngay từ đầu. Sang Nhật với tâm thế: đi kiếm tiền nhanh.

Không xác định học gì, lên trình độ gì.

Chọn ngành chỉ vì dễ đi, ít cần ngoại ngữ xác định lương bèo bọt còn có thể là ngành độc hại hoá chất hay nguy hiểm.

5–7 năm trôi qua: tiền có, nhưng bản thân không khác gì ngày xưa. Về Việt Nam thì lương thấp, không muốn về. Ở Nhật thì chán, vì chính mình ko thấy phát triển lên. Không biết bước tiếp kiểu gì.

Nhật không giữ ai lại và Việt Nam cũng không đuổi ai đi. Chỉ có ai đó tự mắc kẹt trong vòng mình chọn thôi.

Xuất khẩu lao động tự nó không sai.

Đó là một lối đi, nhất là khi tuổi trẻ còn mơ hồ.

Chưa biết bắt đầu từ đâu. Nhưng sẽ trở thành sai lầm nếu chỉ đổi sức lấy tiền, mà không đổi trình độ, kỹ năng, hay cả mối quan hệ và văn hoá sống.

À quên còn kiểu thứ 4: Làm việc sinh sống như người Nhật sống lâu sống thọ, sống vui vẻ sống yêu đời, sống bền vững, sống trường tồn sống ra cái visa vĩnh trú, sống ra cái quốc tịch, rồi người Việt Nam nhưng về Việt Nam phải xin visa kiểu này thuộc dạng VIP xin phép ko bàn đến.

Bài viết đậm chất "self-help" này được viết lúc tỷ giá yên 166, rất thích hợp đi du lịch Nhật Bản.

[/trích]  



Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Giảm thiểu "cái con củ cải gì cũng dính đến Tàu Khựa"

Tiếp theo cái thông tin Sữa - Chuỗi cung ứng - Chết bởi tay Trung Cộng mình mới thử hỏi cháu GROK xem làm sao để tránh bị dính đến Tàu Khựa, thì được câu trả lời thế này:

Cách thực tế để giảm thiểu (không phải tránh 100%, nhưng giảm đáng kể) khi mua ở siêu thị Nhật (như Aeon, Ito-Yokado, Life, Seiyu, hoặc Matsumoto Kiyoshi/ Don Quijote, vân vân... ở Nhật Bản)

Ưu tiên sản phẩm nhấn mạnh nguồn nguyên liệu nội địa:

国産 Quốc Sản = sản xuất tại Nhật / nguyên liệu Nhật.

国内産 Quốc Nội Sản = nguyên liệu trong nước.

北海道産 Bắc Hải Đạo Sản, 沖縄産 Okinawa Sản... → nguồn cụ thể từ vùng Nhật.

Ví dụ: Nhiều thực phẩm bổ sung (supplement), mỹ phẩm, thực phẩm dùng 米 (gạo Nhật), 酒 (sake), 昆布 (kombu), 馬油 (horse oil từ Hokkaido), 米ぬか (rice bran) – thường ghi rõ 100% Quốc Sản 国産.

Chọn thương hiệu Nhật cao cấp, ít phụ thuộc Tàu Khựa:

FANCL, DHC (supplement): Nhiều dòng nhấn mạnh nguyên liệu tự nhiên Nhật (như collagen từ cá Nhật), nhưng vẫn check nhãn hàng.

SHIRO, NADESHIKO Rice Series, RICE FORCE, MAIHADA (KOSE): Mỹ phẩm dùng gạo Nhật 100%, sake, hoặc nguyên liệu Hokkaido – ít dính Tàu Khựa.

NaturaGlacé, Hana Organic: Vegan, organic, ưu tiên nguyên liệu Nhật hoặc certified organic (không phải Tàu Khựa).

Imabari towels, đồ gia dụng cao cấp: Nhiều "Made in Japan" thực sự 100% nguyên liệu nội địa.

Tránh hàng giá rẻ bất thường (như supplement dưới 1000 yên/hộp lớn) – dễ OEM từ Tàu Khựa.


Mẹo kiểm tra nhanh tại siêu thị:

Scan barcode bằng app như "Yuka" (có tiếng Nhật), "Open Food Facts", hoặc "Google Lens + Translate" → hiển thị thành phần, nguồn gốc nếu có dữ liệu.

Barcode bắt đầu bằng 49 = Made in Japan (490-499), nhưng chỉ áp dụng sản phẩm hoàn chỉnh, không phải nguyên liệu.

Hỏi nhân viên: Ở Matsumoto Kiyoshi hoặc cửa hàng lớn, dùng máy Translate nói "この商品の原料は中国産ですか?" (Kono shōhin no genryō wa Chūgoku-san desu ka?) – "Nguyên liệu của sản phẩm này có từ Tàu Khựa không?" Nhiều nhân viên thân thiện, sẽ kiểm tra hoặc chỉ sản phẩm Quốc Sản 国産.

Mua ở khu "国内産 Quốc Nội Sản" hoặc "地元産 Địa Nguyên Sản" trong siêu thị (thường có biển riêng cho rau củ, thực phẩm tươi, một số supplement).


Hà Nam Ninh tôi thường mua rau, củ, quả: Mua đồ tươi, mùa nào thức ấy, đừng mua những thứ không đúng mùa.

Khi đi siêu thị ở Nhật mua đồ, tôi thường đọc nhanh thành phần của nó, chỉ cần có một trong các thành phần ghi chữ Trung Cộng (中国) là tôi vất xuống liền.

Ví dụ như trong hình dưới là nhãn mác của sản phẩm mật ong của hãng SAKURA-HONEY, chỗ có gạch chân màu đỏ (gạch chân do tôi vẽ thêm vào), họ viết rõ là "nguyên liệu: mật ong (Trung Cộng, Argentina, New Zealand, Canada,...) túm lại là ngoại nhập.

Một đặc điểm nữa là khi bạn nhìn ở quầy bày sản phẩm, những sản phẩm Quốc Sản 国産 thường có giá đắt gấp đôi những sản phẩm có nguyên liệu ngoại nhập.

Vì vậy, khi mua đồ tôi thường xem sản phẩm đắt trước. Nếu sản phẩm đắt mà có thành phần Tàu Chệt thì khỏi nghía đến những thứ rẻ hơn chi cho mất công.



Sữa - Chuỗi cung ứng - Chết bởi tay Trung Cộng

Hôm trước Hà Nam Ninh tôi có cãi nhau với một cháu Ây-Ai về chủ đề "Hàng rởm rẻ tiền của Trung Cộng làm giảm tỉ lệ sanh con".

Có một tác phẩm "Chết bởi tay Trung Cộng" viết bởi giáo sư Peter Navarro - người đã bị bỏ tù vì "tội" đi theo Trump.

Hôm nay ông bạn Đỗ Đức Thạch chợt gửi cho một bài về thông sữa bị nhiễm độc do có đính vào trong chuỗi cung ứng một thành phần được sản xuất tại Vũ Hán.

[trích]

Đầu năm 2026.

Nestlé (và một số hãng khác như Danone với thương hiệu Aptamil) đã phải thu hồi hàng loạt lô sữa bột trẻ em do phát hiện nguy cơ nhiễm độc tố cereulide (do vi khuẩn Bacillus cereus sản sinh). Độc tố này rất bền nhiệt, không bị phá hủy bởi quá trình đun sôi hay pha sữa thông thường, và có thể gây nôn mửa dữ dội, đau bụng, tiêu chảy ở trẻ nhỏ – đặc biệt nguy hiểm với trẻ sơ sinh vì dễ dẫn đến mất nước nghiêm trọng.

Nguyên nhân gốc rễ được truy vết đến dầu ARA (Arachidonic Acid – axit béo omega-6 bổ sung cho sự phát triển não bộ trẻ), bị nhiễm khuẩn từ nhà cung cấp Cabio Biotech (Wuhan, Trung Cộng) – một trong những nhà sản xuất ARA lớn nhất thế giới (chiếm khoảng 1/3 nguồn cung toàn cầu). Các lô dầu ARA từ nhà máy Vũ Hán của họ bị nhiễm vi khuẩn Bacillus cereus, dẫn đến độc tố cereulide hình thành trước khi đưa vào sản xuất sữa.

- Nestlé bắt đầu thu hồi từ cuối tháng 12/2025, mở rộng đến hơn 60 quốc gia (bao gồm châu Âu, châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Brazil...), ảnh hưởng đến nhiều dòng sản phẩm như NAN, BEBA, Alfamino, SMA, Guigoz... Đây được coi là đợt thu hồi lớn nhất lịch sử của hãng.

- Danone (Aptamil) cũng thu hồi một số lô cụ thể (ví dụ tại Anh: Aptamil First Infant Formula 800g, hạn dùng trước 31/10/2026), và sau đó mở rộng ở một số thị trường khác.

- Các hãng khác như Lactalis cũng bị ảnh hưởng tương tự.

Nestlé và Danone đã ngừng nhập khẩu ARA từ Cabio Biotech, chuyển sang nhà cung cấp khác, và khẳng định chưa ghi nhận ca bệnh xác nhận liên quan trực tiếp (dù có một số báo cáo điều tra về trẻ nhập viện hoặc tử vong nghi ngờ ở Pháp). Cổ phiếu Cabio Biotech giảm mạnh (gần 12% chỉ trong một phiên).

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã yêu cầu dừng lưu thông một số lô Nestlé (như Beba, Alfamino), và Nestlé Việt Nam chủ động thu hồi 17 lô NAN nhập khẩu. Với Aptamil, dù một số lô chưa chính thức lưu hành, vẫn khuyến cáo rà soát hàng xách tay.

[/trích]

Bên lề thông tin về sữa, một loạt các thứ khác để bỏ vào mồm cũng được sản xuất tại Trung Cộng.

Thực phẩm bổ sung "made in" USA hoặc Âu Châu, Úc Châu:

Nguyên liệu thô (raw ingredients) phụ thuộc rất lớn vào Trung Cộng:

Trung Cộng sản xuất hơn 70-90% một số loại vitamin và nguyên liệu phổ biến toàn cầu, ví dụ:

Vitamin C: gần 100%.

Vitamin A, E, một số B-complex (như B9, B6, B7): từ 70 ~ 100%.

Amino acids và nhiều hợp chất khác: từ 80 ~ 90%.

Nhiều báo cáo (từ AFIA, USDA, Time Magazine, và các nguồn ngành) ước tính 70~80% nguyên liệu cho thực phẩm chức năng "Made in Mỹ" đến từ Trung Cộng (hoặc qua Ấn Độ, nhưng Ấn Độ cũng phụ thuộc Trung Cộng cho API = Active Pharmaceutical Ingredient = Hoạt chất dược phẩm hoặc Thành phần hoạt chất dược phẩm).

AFIA = American Feed Industry Association (Hiệp hội Công nghiệp Thức ăn Chăn nuôi Mỹ).

USDA = United States Department of Agriculture (Bộ Nông nghiệp Mỹ).


Thực phẩm bổ sung "made in" Nhật Bản:

Nhật Bản nhập khẩu khoảng 70% vitamin C cấp thực phẩm (food-grade) từ Trung Cộng.

Vitamin khác (như B-complex, E) và axit amin cũng phụ thuộc lớn vào nguồn Trung Cộng.

Nhật Bản phụ thuộc Trung Cộng khoảng 30-50% cho API (Active Pharmaceutical Ingredient - hoạt chất) và cao hơn với nguyên liệu thô/ midstream (có thể lên đến 60-80% ở một số loại như kháng sinh, vitamin, hoặc tiền chất).

Đối với thuốc bắc (kampo - thuốc thảo dược Nhật Bản), nguyên liệu sinh dược (生薬) phụ thuộc 83% từ Trung Cộng, và xu hướng này vẫn tiếp diễn dù có nỗ lực tăng sản xuất nội địa.

Nhiều sản phẩm như collagen, nattokinase, tảo xoắn, hoặc vitamin tổng hợp của các hãng lớn (DHC, FANCL, Shiseido, Meiji, Kobayashi...) thường dùng nguyên liệu tự nhiên hoặc tổng hợp. Một phần lớn (đặc biệt vitamin, khoáng chất, một số chiết xuất) được nhập từ Trung Cộng hoặc qua các nước khác nhưng gốc từ Trung Cộng.

GMP = Good Manufacturing Practice = Thực hành sản xuất tốt (hoặc Thực hành tốt sản xuất).

GMP áp dụng cho thuốc (dược phẩm), và áp dụng rộng rãi cho thực phẩm bổ sung (dietary supplements, health foods, サプリメント), thực phẩm bảo vệ sức khỏe.

Ở Nhật Bản:

Đối với dược phẩm (thuốc kê đơn/ không kê đơn): GMP là bắt buộc theo quy định của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW), gọi là Japan-GMP hoặc GMP Ministerial Ordinance (dựa trên tiêu chuẩn PIC/S quốc tế). Đây là một trong những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất thế giới, với quy trình kiểm tra kéo dài (thường 16-27 tháng), kiểm soát chặt chẽ nhà xưởng, thiết bị, nhân sự, vệ sinh, kiểm nghiệm...

Đối với thực phẩm bổ sung (không phải thuốc): GMP là tự nguyện (voluntary), không bắt buộc pháp lý như dược phẩm. Tuy nhiên, nhiều hãng lớn (DHC, FANCL, Otsuka, Meiji, Kobayashi, Shiseido...) tự nguyện áp dụng và được chứng nhận bởi các tổ chức như:

JANFA (Japan Health and Nutrition Food Association).

JIHFS (Japanese Institute for Health Food Standards).

Các hãng Nhật thường nhấn mạnh "GMP nghiêm ngặt" trên bao bì hoặc quảng cáo để xây dựng lòng tin, vì người tiêu dùng Nhật rất chú trọng chất lượng và an toàn. Họ thường thực hiện:

Kiểm nghiệm tại Nhật (third-party testing hoặc lab nội bộ).

Pha chế/ đóng gói nội địa (tại nhà máy Nhật Bản, dưới môi trường kiểm soát nghiêm ngặt như phòng sạch, kiểm soát nhiệt độ/ độ ẩm).

Tuân thủ Foods with Function Claims (FFC) – hệ thống công bố chức năng của Nhật (tương tự FDA nhưng linh hoạt hơn).

Các nguyên tắc chính của GMP (áp dụng chung, bao gồm Nhật Bản)

Nhân sự: Đào tạo, vệ sinh cá nhân.

Nhà xưởng & thiết bị: Thiết kế sạch sẽ, dễ vệ sinh, ngăn ngừa nhiễm bẩn.

Nguyên liệu: Kiểm tra nguồn gốc, lưu trữ đúng cách.

Quy trình sản xuất: Tài liệu hóa chi tiết, kiểm soát từng bước (trọng lượng, thời gian, nhiệt độ...).

Kiểm soát chất lượng: Kiểm nghiệm mẫu, theo dõi lô hàng.

Bảo quản & phân phối: Ngăn ngừa hư hỏng.

Tại sao các hãng Nhật nhấn mạnh GMP?

Giúp giảm thiểu rủi ro (như vụ Kobayashi red yeast rice 2024-2025, dù họ có GMP nhưng vẫn xảy ra vấn đề → chứng tỏ GMP tốt nhưng không phải 100% miễn nhiễm).

Tăng uy tín: "Made in Japan + GMP" thường được coi là bảo chứng chất lượng cao, đặc biệt khi so sánh với nguồn nguyên liệu nhập khẩu (như từ Trung Cộng).

Tuân thủ xuất khẩu: Nhiều sản phẩm Nhật xuất sang Mỹ/EU phải đạt GMP tương đương (cGMP của FDA).


Whey protein chất lượng tốt nhất thường đến từ Mỹ, châu Âu (Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Ireland), New Zealand, Úc – nơi có ngành chăn nuôi bò sữa lớn, quy trình sản xuất phô mai quy mô, và whey được tách ra làm phụ phẩm. Các hãng lớn như:

Glanbia (Optimum Nutrition, BSN), Hilmar (Mỹ), Arla Foods, FrieslandCampina, Lactalis (châu Âu), Fonterra (New Zealand) chiếm lĩnh thị trường whey cao cấp (grass-fed, hormone-free, WPI/WPC 80-90%).

Trung Cộng không phải nhà sản xuất whey lớn vì ngành sữa bò nội địa còn hạn chế (sản lượng phô mai thấp → ít whey phụ phẩm). Họ phụ thuộc nhập khẩu whey thô/ concentrate từ Mỹ/EU/New Zealand (hàng năm nhập hàng trăm nghìn tấn, chủ yếu cho sữa công thức trẻ em, thực phẩm chức năng, và thức ăn chăn nuôi).

Tuy nhiên, Trung Quốc có nhiều nhà máy pha chế, đóng gói, và sản xuất whey giá rẻ (WPC 80% hoặc thấp hơn), thường dùng whey nhập khẩu rồi pha trộn, thêm hương liệu, và xuất khẩu dưới dạng bột whey "Made in China" hoặc OEM cho các thương hiệu khác.

Một số sản phẩm whey rẻ tiền (đặc biệt trên Alibaba, Taobao, hoặc hàng xách tay giá rẻ) có nguyên liệu whey từ Trung Quốc hoặc pha trộn với whey nhập khẩu nhưng xử lý tại TQ.

Có trường hợp whey concentrate từ châu Âu/Mỹ được vận chuyển đến Trung Quốc để pha chế cuối cùng (flavoring, packaging) rồi dán nhãn "Made in USA" (nếu đóng gói lại ở Mỹ), nhưng điều này ít phổ biến hơn so với vitamin.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Đường Bách Kiều - Tập – Trương đối đầu: Ai sẽ chết.

Tập – Trương đối đầu: Ai sẽ chết. 


Tác giả: Đường Bách Kiều (Thủ lãnh cuộc biểu tình Thiên An Môn)



Phần I: Các “gia tộc đỏ” sẽ chọn phe ra sao?


Cuộc đối đầu quyền lực giữa Tập Cận Bình và Trương Hựu Hiệp đã trở thành màn sinh tử quyết liệt, cân sức và nguy hiểm bậc nhất trong lịch sử nội bộ ĐCSTQ kể từ khi chế độ này được thành lập. Kết cục của nó không chỉ định hình tương lai chính trị Trung Quốc, mà thậm chí có thể trở thành giọt nước tràn ly làm sụp đổ toàn bộ cấu trúc quyền lực hiện nay của Đảng.


Chính vì vậy, từng diễn biến của cuộc đấu này đều cần được theo dõi sát sao, và mọi phán đoán đều phải điều chỉnh linh hoạt theo thực tế đang thay đổi từng ngày.


Tờ Wall Street Journal, thông qua các kênh truyền thông Đảng ở hải ngoại, đã chính thức gán cho Trương Hựu Hiệp tội danh “đầu hàng – phản bội kẻ thù” – chiếc mũ quen thuộc mà cá nhân tôi từng bị đội trong quá khứ (y hệt, không sai một chữ 😄). Điều này cho thấy hai bên đã xé toang mọi lớp ngụy trang, cuộc chơi sinh tử “được ăn cả, ngã về không” chính thức bắt đầu.


Tôi từng nhấn mạnh: lần này hoàn toàn khác với những đợt thanh trừng tướng lĩnh trước đây của Tập Cận Bình. Trước kia là “bắt gà con”, còn lần này là đâm lê đối đầu. Hai bên đều đã vào thế lưng dựa vực sâu, sẽ tung ra mọi lá bài có trong tay. Vì vậy, cuộc quyết đấu này mới chỉ ở hồi mở màn, phía trước còn vô số biến số, và hươu chết về tay ai vẫn chưa thể kết luận.


Những yếu tố then chốt quyết định cục diện Tập – Trương


Bao gồm nhưng không giới hạn ở:

 • Các gia tộc đỏ sẽ đứng về phía nào

 • Ai thực sự kiểm soát súng đạn

 • Dân ý cuối cùng nghiêng về bên nào

 • Cục diện quốc tế biến động ra sao

 • Và lựa chọn cuối cùng của Tổng thống Trump


Trong phần này, trước hết cần bàn về câu hỏi căn bản nhất: các gia tộc đỏ sẽ chọn phe thế nào?


Trên thực tế, Trung Quốc vẫn là một quốc gia do gia tộc đỏ kiểm soát. Những người khác, về bản chất, chỉ là nhân vật phụ. “Gia tộc đỏ” ở đây là các gia đình công thần thế hệ đầu lập quốc; các gia đình lãnh đạo các đời sau chỉ có thể xem là xếp sau.


Dưới đây là 10 gia tộc đỏ vẫn còn thực lực đáng kể (không tính gia tộc họ Tập):


1. Gia tộc Đặng Tiểu Bình

 • Đại diện: Đặng Phác Phương

 • Thực trạng: Ảnh hưởng suy giảm mạnh, nhưng uy thế “lão đại đỏ” vẫn còn dư âm

 • Khả năng: Bất mãn với tập quyền cực đoan của Tập? Có âm thầm ủng hộ lực lượng phản Tập?


2. Gia tộc Trần Vân

 • Đầu tàu: Trần Nguyên

 • Thực trạng: Kiểm soát khối tài sản quốc khố khổng lồ, đại diện phe bảo thủ

 • Khả năng: Khi kinh tế đứng bên bờ sụp đổ, lợi ích bị đụng chạm, liệu có quay xe?


3. Gia tộc Diệp Kiếm Anh

 • Nhân vật then chốt: Diệp Tuyển Liêm

 • Thực trạng: Quân đội – tình báo – “thái tử đỏ quân phương”

 • Khả năng: Cùng hệ thống quân đội với Trương Hựu Hiệp, liệu có phản ứng trước đại thanh trừng?


4. Gia tộc Giang Trạch Dân

 • Đại diện: Giang Miên Hằng

 • Thực trạng: Nắm viễn thông, tài lực cực lớn, tàn dư “bè phái Thượng Hải”

 • Khả năng: Có phản công bằng tài sản và hồ sơ nhạy cảm?


5. Gia tộc Vương Chấn

 • Đầu tàu: Vương Chi

 • Thực trạng: Đế chế quân công – vũ khí, gắn bó chặt với phe Giang

 • Khả năng: Gia nhập liên minh phản Tập?


6. Gia tộc Diêu Y Lâm

 • Nhân vật trung tâm: Vương Kỳ Sơn

 • Thực trạng: Từng là đồng minh chống tham nhũng của Tập, nay bị gạt ra rìa

 • Khả năng: Sự im lặng của Vương Kỳ Sơn là biến số lớn nhất – có tái xuất?


7. Gia tộc Tăng Khánh Hồng

 • Đại diện: Tăng Khánh Hồng

 • Thực trạng: “Trùm” Thượng Hải, kiểm soát mạng lưới tình báo, bị đàn áp nặng

 • Khả năng: Tận dụng ảnh hưởng hải ngoại để lập mặt trận phản Tập?


8. Gia tộc Hồ Cẩm Đào

 • Thực trạng: Hồ Cẩm Đào đã cao tuổi, nhưng “Đoàn phái” còn đông đảo

 • Khả năng: Hồ Xuân Hoa hoặc tàn dư Đoàn phái phản công?


9. Gia tộc Ôn Gia Bảo

 • Thực trạng: Hình ảnh tương đối tốt, gia tộc kinh doanh lớn

 • Khả năng: Đóng vai “người phát ngôn dân ý” gây sức ép chính trị?


10. Gia tộc Lý Bằng

 • Đại diện: Lý Tiểu Lâm

 • Thực trạng: Đế chế điện lực, bị Tập đánh cho tơi tả

 • Khả năng: Có tìm cơ hội trả đũa?


Kết luận tạm thời


Lập trường của các gia tộc đỏ có ảnh hưởng, nhưng không mang tính quyết định tuyệt đối. Trong điều kiện chưa thấy rõ cửa thắng, đa số sẽ chọn tự bảo toàn và giả chết. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng xuất hiện nhân tố hắc mã – ví dụ hậu duệ Lưu Thiếu Kỳ, hoặc con cháu Hồ–Triệu xuất hiện nhân vật có khí phách kiểu “Hạng Vũ”.


Tóm lại, đây là một cuộc đối đầu thực sự, chứ không phải thanh trừng một chiều. Tình thế có thể đảo ngược bất cứ lúc nào.


(Xem tiếp kỳ sau: Gia tộc đỏ chỉ là màn dạo đầu. Lá bài sinh tử thật sự nằm trong tay kẻ nắm súng. Trong tình trạng quân đội bị “rỗng hóa”, ai mới là người kiểm soát nòng súng? Cục diện Đài Loan có bị đẩy lên thành đòn quyết định?)


Bản quyền thuộc về tác giả Đường Bách Kiều – khi trích dẫn vui lòng ghi rõ nguồn.

Hoàng Thị Tố Lang - Chuyện người con gái có tên Nguyễn Thị Di Tản

Tôi là họ Nguyễn. Chỉ riêng họ Nguyễn đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam.

Nhưng lúc rời Việt Nam tôi chỉ là cái bào thai trong bụng mẹ, theo mẹ trên đường di tản và chào đời trên đảo Guam.

Từ ngày ấy, tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản.



Đến nay 48 năm qua, tôi đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg, buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” - bản nhạc của nhạc sĩ Nam Lộc mà mẹ rất yêu thích.

Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ nói đêm nào không nghe bài hát ấy thì tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói, mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát những câu cuối cùng:

“Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ.

Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau.

Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất.

Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!”.

Bạn bè đến chơi, mẹ đem “con sáo” của mẹ ra khoe, bảo tôi hát.

Mỗi lần hát xong các bạn của mẹ đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi:

“Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?”

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:

“Bao giờ lớn lên, con sẽ hiểu”.

Trí óc non nớt của tôi mơ hồ cảm nhận có điều khác thường ở mẹ, một sự mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói:

- Con là người nước nào?

- Dạ thưa, con là người Việt Nam.

- Con tên gì?

- Con tên là Di Tản.

- Con có yêu nước Việt Nam không?

- Con yêu Việt Nam lắm, vì đó là quê hương của con.

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen với cái tên Di Tản, thấy nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao á.

Khi tôi 5 tuổi, mẹ dắt tôi đến trường gần nhà ghi tên đi học. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt xa lạ.

Cô giáo cũng thế. Lúc mẹ chào cô ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi ngồi cô đơn trong góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:

“What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt

“Dạ .. Di Tản”.

Cô giáo chừng như không hiểu, xem lại quyển sổ và nói: “Your name is Đaithen”.

Tôi lắc đầu và lặp lại “Di Tản”. (DiTan). Cả lớp rộ lên cười. Và tôi bật khóc.

Sau buổi học, mẹ đón tôi về. Suốt quãng đường về nhà tôi lặng thinh, không nói điều gì. Mẹ âu yếm hỏi:

- Con đi học có vui không?

Chừng như chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và nói:

- Sao mẹ không đặt cho con cái tên nào dễ kêu như Helen, Cindy hay Linda như tụi nó mà lại đặt tên là Di Tản? Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:

- Con có biết cả nước Canada có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi mình con. Con không thấy con đặc biệt sao? Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải chứ.

Tôi nũng nịu pha chút hờn dỗi:

- Mà cô giáo đọc là Đaithen Mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:

- Tại cô không biết cách phát âm của người Việt mình thôi. Con phải đọc lại cho cô biết, rồi từ từ cô sẽ đọc đúng mà!

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt:

- Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Chỉ còn cái tên Việt Nam mà mẹ gởi cho con, con biết không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy â;n h;ận. Tôi ôm mẹ hôn và nói:

- Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ:

- Không phải đâu, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là chuyện ngày tôi 5 tuổi. Mãi cho đến những năm sau này, tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Nhưng chọc ghẹo cho vui chớ không có ác ý nào cả.

Lúc vào Highschool (Trung học) tôi đã lớn rồi. Tôi hiểu những u uất của đời mẹ và thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái, mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc này tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ đã biết cách phát âm tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được.

Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế, ngập ngừng hồi lâu mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư Canada, đọc cái tên lạ hoắc chưa bao giờ nghe thấy. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi thầy gọi: “Đai then”.

Cả lớp ồ lên:

“Oh, my god”.

Giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh. Cả lớp nhao nhao như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh hích cùi chỏ vào tôi khẽ bảo:

- Di Tản, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm:

- Di Tản, Di Tản not Đai then!Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ, biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói xin lỗi và lập lại:

“Di Tản, Di Tản”…

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Gia Nã Đại, đều “cứu bồ” mỗi lần có tình trạng như trên xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương.

Đến giờ nhớ lại những lời mẹ nói ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng. Quê hương Việt Nam gắn với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ. Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng, “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương nhưng không thể nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh b;án th;ân của cha tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng cha còn sống và sẽ có ngày gia đình tôi đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, cha hứa sẽ gặp lại mẹ sau.

Vậy là, mẹ b;ụng ma;ng d;ạ ch;ửa lên phi cơ theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại. Nhưng niềm hy vọng đó vơi dần theo năm tháng, cho đến ngày mẹ được tin cha đã nằm xuống nơi trại tập trung cải tạo. Cuộc sống của mẹ đã thầm lặng từ bấy lâu, nay càng thầm lặng hơn.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của cha và mẹ như chút dấu yêu còn sót lại.

Mỗi lần nhắc tới cha, mẹ như trẻ lại, mắt long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng sĩ quan hải quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt lắm nên ghẹo:

“Mẹ và cha giống em hậu phương và anh nơi tiền tuyến quá!”.

Ngoài tình mẹ con, tôi như người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để mẹ trang trải nỗi niềm. Nào là “con biết không, cha con hào hoa, đẹp trai lắm"… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:

“Cha không đẹp trai làm sao cua được mẹ!”.

Mẹ cười thật dễ thương. Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng cha trong tim mẹ. Tôi muốn cùng mẹ nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của mẹ và cha đến suốt cuộc đời.

Hôm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 44 của cha, con muốn thưa với cha một điều:

- Con cám ơn cha mẹ đã tạo cho con nên vóc nên hình. Dù chưa một lần gặp mặt, cha đã nằm xuống, đã đi thật xa, không trở lại với mẹ với con. Song với con, cha vẫn hiện hữu bên con từng giờ, từng phút. Con nghĩ cha đã che chở mẹ con và con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin cha hãy giữ gìn, che chở mẹ trong suốt quãng đời còn lại.

Con mong ngày nào đất nước thật sự thanh bình, mẹ sẽ đưa con về thăm lại quê hương.

Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ.

Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương, con sẽ thấy cha mỉm cười và nói với con: “Cha sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu...!”

Hoàng Thị Tố Lang



(Ảnh chỉ mang tính minh họa) 

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

KHÓA THUẾ và QUYỀN CÔNG DÂN - Đừng có cố tình đánh lận con đen

Vợ tôi gửi cho tôi một bài viết dưới đây từ một người Việt nào đó.

[

Tôi là một người Việt Nam, đã sống và làm việc tại Nhật Bản hơn 20 năm, vĩnh trú, đóng thuế đầy đủ, nuôi con ăn học ở đây và coi Nhật Bản như quê hương thứ hai. Tôi hiểu khá rõ luật Nhật – từ Luật Nhập cư, Luật Thuế đến Hiến pháp – và cũng hay tìm hiểu luật các nước khác vì công việc liên quan đến cộng đồng người Việt. 

Nay tôi chia sẻ thẳng một vấn đề mà những anh chị em chỉ sống vài năm thường không biết đến, còn anh em sống lâu ở Nhật thì hiểu rõ nhưng chỉ biết "ngậm bồ hồn làm ngọt": người nước ngoài đóng thuế 100% giống người Nhật, nhưng không có quyền bỏ phiếu, không có tiếng nói chính thức ở Quốc hội. Nói đơn giản, vừa bị mất tiền vừa bị bịt miệng, hố nặng. Hãy nhớ cái này, để nếu có bị người Nhật ức hiếp thì nhớ đem ra mà phản biện.

Trước hết, hãy nói về thuế. Ở Nhật, người nước ngoài cư trú (resident for tax purposes) phải đóng:

- Thuế thu nhập (shotokuzei) trên thu nhập.

- Thuế cư trú địa phương (jūminzei) – cả phần cố định và phần theo thu nhập.

- Lương hưu dày đặc (nenkin), bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Tức là tất cả đều giống hệt người Nhật, không có ưu đãi gì (trừ vài ba ưu đãi giảm trừ rất bé cho người mới đến). Nói cách khác, anh em ta đóng 100% nghĩa vụ tài chính để duy trì hệ thống xã hội Nhật Bản – từ đường xá, trường học, bệnh viện đến lương hưu cho đám người già Nhật.

Nhưng quyền bầu cử thì sao? Zero. Chúng ta không được bỏ phiếu bầu Quốc hội, không bầu Thủ tướng (gián tiếp qua Hạ viện), thậm chí ở cấp địa phương (tỉnh, thành phố) cũng không có quyền chính thức trên toàn quốc. 

Hiến pháp Nhật quy định quyền bầu cử chỉ dành cho "kokumin" – công dân Nhật. Vĩnh trú lâu năm đến mấy cũng không. Tôi nhớ có phong trào vận động từ những năm 90 (đặc biệt từ cộng đồng Triều Tiên thường trú), Tòa án Tối cao từng phán năm 1995 rằng có thể cho quyền bầu cử địa phương, nhưng đến nay vẫn chưa có luật nào thông qua. Một số địa phương từng đề xuất rồi lại rút vì bị phản đối mạnh.

Bây giờ so sánh với các nước khác để thấy Nhật đang... lạc hậu thế nào:

- Hàn Quốc: Người nước ngoài có thẻ thường trú (F-5) được bầu cử địa phương sau 3 năm cư trú. Cộng đồng Việt Nam ở Hàn cũng đông, và họ có tí tiếng nói ở hội đồng địa phương.

- New Zealand: Thường trú được bầu cử cả quốc gia lẫn địa phương chỉ sau 1 năm cư trú.

- Các nước EU: Công dân EU sống ở nước thành viên khác được bầu cử địa phương và Nghị viện châu Âu. Ngay cả một số nước cho người ngoài EU (như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha) cũng cấp quyền bầu địa phương cho thường trú nhân.

- Anh, một số bang Mỹ: Thường trú từ các nước Commonwealth hoặc lâu năm có quyền bầu địa phương.

Có thể thấy những nước này hiểu nguyên tắc cơ bản: No taxation without representation – không đánh thuế mà không có đại diện. Nếu đã lấy tiền thuế của người ta để xây dựng xã hội, thì phải cho họ tiếng nói ít nhất ở cấp địa phương – nơi họ sống, đóng thuế và chịu ảnh hưởng trực tiếp.

Còn Nhật Bản thì sao? Lấy thuế 100%, nhưng lại ép người nước ngoài ra bã, khi lên tiếng về chính sách nhập cư, visa, lao động... thì bị coi là "khách", bị bảo "không thích thì về nước", hoặc tệ hơn là bị gắn mác "phá hoại". Đóng góp thì lấy hết, quyền lợi chính trị thì cắt hết – tấu hài không?

Bây giờ ngược lại, nếu Nhật không muốn cho người nước ngoài tiếng nói, tách biệt ra là người ngoài, thì OK - hãy giảm thuế cho người nước ngoài – ít nhất thuế cư trú địa phương hoặc một phần bảo hiểm xã hội. 

Còn không, đừng ngạc nhiên khi người nước ngoài bức xúc và có hành vi bất mãn, bởi vì lẽ đơn giản "đã lấy tiền quá 100% của người ta thì người ta ko nghe lời 100%, ko thiết tha 100% là đương nhiên". Và trớ trêu là, người Nhật cũng không hề nhận ra điều này, lại cứ hay phán xét người nước ngoài sao lại thế này, sao lại thế kia? Để rồi khi thiếu lao động trầm trọng hơn, thì lại quay sang trách tại sao cộng đồng nước ngoài không "biết ơn" nước Nhật nọ chai.

Tôi vẫn yêu Nhật Bản, vẫn muốn ở lại và đóng góp, vì tôi cũng có tuổi rồi, tôi cũng quen ở đây rồi. Chỉ hy vọng cộng đồng người Việt dần nhận ra bản chất, để ít nhất có gặp người Nhật nào ý kiến ý cò, hãy "nhẹ nhàng" phân tích cho họ – rằng hàng trăm ngàn người nước ngoài đang lặng lẽ đóng thuế và xây dựng đất nước này mỗi ngày y như họ, và đang chịu thiệt thòi đấy.

]

=====

BẦU CỬ là quyền HIẾN ĐỊNH của một CÔNG DÂN, dù người đó có đóng thuế hay không.

Bài viết trên này SAI một cách hiển nhiên rõ ràng.

1) Quyền bỏ phiếu bầu cử một cách hiển nhiên không cần giải thích đó là chỉ dành cho người nào có quyền công dân, tức là có quốc tịch. Nó giống như trong gia đình người ta, chỉ có con đẻ mới được quyền biểu quyết những chuyện đại sự ở trong nhà. Một người hàng xóm sang đòi góp tí tiền rồi đòi có quyền bầu người lãnh đạo trong nhà sao.

Định dùng lý luận rằng "đóng thuế như công dân thì tự nhiên có quyền công dân" là một lý luận vớ vẩn. Đem ra lòe bịt thiên hạ.

2) Luật thuế: Ai có thu nhập thì phải nộp thuế. Đó là luật.

Ở Nhật người nào không có thu nhập thì người đó không phải chịu thuế.

Hoặc có thu nhập không phải chịu thuế thì cũng không phải đóng thuế.

Ví dụ: Các cháu bé 16 tuổi bắt đầu có quyền đi làm thêm, nhưng thu nhập từ việc đi làm thêm là thu nhập không chịu thuế, nên các cháu bé đó không phải đóng thuế.

Các cháu học đến 23 tuổi mới tốt nghiệp đại học. Tốt nghiệp xong thì đi làm toàn thời gian có thu nhập mới bắt đầu đóng thuế.

CÁc cụ già 65 tuổi về hưu, không có thu nhập chịu thuế nữa.

Sau khi về hưu, các cụ đi làm thêm, như lái xe taxi chẳng hạn, thì lúc đó thu nhập đó không phải chịu thuế.

Các cụ trên 65 tuổi không nộp thuế. Các cháu dưới 23 tuổi không nộp thuế. Nhưng là công dân Nhật họ vẫn có quyền bầu cử.

Việc NỘP THUẾ là theo luật THUẾ. Việc bầu cử là quyền CÔNG DÂN.

Mang tiếng ở Nhật lâu, học rộng biết nhiều mà nói ra sao thấy bốc mùi dốt nát.


Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Hàng Rởm Rẻ Tiền của Tàu Khựa làm giảm tỉ lệ sanh con - và phản biện của cháu Ây-Ai GROK

Gã nông dân tôi cho rằng: "Khi mà một nước nào đó càng tràn ngập hàng hóa tàu khựa thì tỉ lệ sanh con của nước đó bắt đầu giảm, và giảm mạnh".

Tưởng đâu chuyện đó chỉ xảy ra ở Mỹ, Âu, Hàn, Nhật, nào ngờ đến Việt Nam cũng bị luôn.


Quan điểm của "gã nông dân" kia nghe có vẻ thú vị kiểu "tương quan thì nhân quả", nhưng thực tế không có bằng chứng khoa học hay dữ liệu đáng tin cậy nào chứng minh rằng việc hàng hóa Trung Quốc (hay "hàng tàu khựa") tràn ngập thị trường là nguyên nhân trực tiếp khiến tỷ lệ sinh giảm ở các nước.

Tỷ lệ sinh (fertility rate) giảm mạnh là hiện tượng toàn cầu, xảy ra ở hầu hết các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt từ những năm 1990-2000 trở đi. Nguyên nhân chính bao gồm:

  • Phát triển kinh tế và đô thị hóa: Chi phí nuôi con tăng cao (nhà ở, giáo dục, y tế), phụ nữ tham gia lao động nhiều hơn, trì hoãn kết hôn/sinh con.
  • Thay đổi văn hóa và lối sống: Nhiều người trẻ ưu tiên sự nghiệp, tự do cá nhân, coi gia đình nhỏ hoặc không con là bình thường.
  • Giáo dục cao hơn: Đặc biệt phụ nữ học cao thì thường sinh ít con hơn.
  • Truy cập biện pháp tránh thai tốt hơn và (ở một số nước) chính sách kế hoạch hóa gia đình trước đây.

Ở các nước bạn nhắc:

  • Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn: Tỷ lệ sinh giảm từ lâu (Hàn Quốc hiện ~0.7-0.8, Nhật ~1.3, nhiều nước Âu ~1.4-1.6), bắt đầu trước khi hàng Trung Quốc "tràn ngập" mạnh (sau khi Trung Quốc gia nhập WTO 2001). Nguyên nhân chủ yếu là giàu lên + đô thị hóa + chi phí sống cao.
  • Trung Quốc chính nó cũng đang có tỷ lệ sinh cực thấp (~1.0-1.1 gần đây, thậm chí thấp hơn cả Nhật/Hàn), dù là nguồn xuất khẩu hàng hóa. Điều này cho thấy "hàng Trung Quốc" không phải yếu tố quyết định.

Còn Việt Nam:

  • Tỷ lệ sinh giảm dần từ những năm 1990 (từ ~3-4 con/phụ nữ xuống dưới 2.1 từ khoảng 2015-2020, năm 2024 chỉ còn ~1.91 – thấp kỷ lục).
  • Nguyên nhân chính: Đô thị hóa nhanh (ở TP.HCM, Hà Nội chỉ ~1.3 con/phụ nữ), chi phí sống tăng, giáo dục cao hơn, phụ nữ làm việc nhiều, áp lực kinh tế (nuôi con tốn kém), và xu hướng "ít con để chất lượng cao".
  • Việt Nam nhập siêu lớn từ Trung Quốc (hàng tiêu dùng, nguyên liệu rẻ), nhưng điều này chủ yếu ảnh hưởng đến lạm phát thấp, cạnh tranh công nghiệp nội địa, chứ không liên quan trực tiếp đến quyết định sinh con. Không có nghiên cứu nào chỉ ra mối tương quan nhân quả kiểu "hàng Tàu nhiều → sinh ít con".

Tóm lại, sự trùng hợp thời gian (hàng Trung Quốc rẻ tràn vào + tỷ lệ sinh giảm) không có nghĩa là có quan hệ nhân quả. Đây là hai hiện tượng song song do phát triển kinh tế - xã hội gây ra. Nhiều nước ít nhập hàng Trung Quốc vẫn giảm sinh mạnh (như Nhật, Hàn), và ngược lại.

Nếu có dữ liệu cụ thể nào (ví dụ nghiên cứu, số liệu thống kê) chứng minh ý này, thì chia sẻ để mình xem thêm nhé – chứ hiện tại thì nghe giống thuyết âm mưu hơn là khoa học. 😄

 

Hô hô, GROK mày phủ định quan điểm của gã nông dân tao. Ấy thế nhưng mày lại sẽ ủng hộ chuyện "CO2 là thủ phạm gây ra Nhiệt hóa địa cầu" mặc dù chẳng có bằng chứng khoa học nào chứng minh sự liên quan trực tiếp cả.


Không, mình không phủ nhận quan điểm của gã nông dân một cách tùy tiện, mà dựa trên việc không có bằng chứng nhân quả nào (nghiên cứu, dữ liệu thống kê đáng tin cậy) liên kết trực tiếp "hàng Trung Quốc tràn ngập" → tỷ lệ sinh giảm. Đó là hai hiện tượng song song do đô thị hóa, chi phí sống, thay đổi văn hóa gây ra – không phải nguyên nhân – hậu quả.

Còn về CO₂ và biến đổi khí hậu, tình hình hoàn toàn khác. Đây không phải chuyện "chẳng có bằng chứng khoa học nào chứng minh sự liên quan trực tiếp" như bạn nói. Ngược lại, có rất nhiều bằng chứng khoa học vững chắc, từ cơ bản vật lý đến quan sát thực tế, được hàng chục nghìn nhà khoa học xác nhận qua hàng thập kỷ.

Dưới đây là tóm tắt ngắn gọn các bằng chứng chính (dựa trên các nguồn uy tín như IPCC, NASA, NOAA, và các nghiên cứu peer-reviewed):

  1. Vật lý cơ bản (đã biết từ thế kỷ 19): CO₂ là khí nhà kính – nó hấp thụ và phát xạ lại bức xạ hồng ngoại (nhiệt) từ Trái Đất, giữ nhiệt trong khí quyển. Điều này được John Tyndall thí nghiệm năm 1859 và Svante Arrhenius tính toán năm 1896 rằng tăng CO₂ sẽ làm Trái Đất ấm lên.
  2. Quan sát trực tiếp tăng CO₂ do con người: Nồng độ CO₂ từ ~280 ppm (trước công nghiệp) lên hơn 420 ppm hiện nay, chủ yếu từ đốt nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí). Bằng chứng đồng vị carbon (¹³C/¹²C thấp hơn ở CO₂ hóa thạch) chứng minh nguồn gốc nhân tạo, không phải tự nhiên.
  3. Bằng chứng đo lường "dấu vân tay" của CO₂:
    • Vệ tinh đo phổ hồng ngoại: Tăng CO₂ làm giảm lượng nhiệt thoát ra vũ trụ ở đúng bước sóng CO₂ hấp thụ (nghiên cứu Harries 2001, Graven 2017, v.v.).
    • Đo trực tiếp tại bề mặt: Tăng hiệu ứng nhà kính từ CO₂ (nghiên cứu Berkeley Lab 2015 – lần đầu quan sát trực tiếp tăng forcing bức xạ do CO₂).
  4. Tương quan nhân quả rõ ràng:
    • Nhiệt độ toàn cầu tăng ~1.1–1.2°C kể từ thời tiền công nghiệp, khớp với tăng CO₂ tích lũy.
    • Mô hình khí hậu chỉ giải thích được sự ấm lên gần đây khi đưa yếu tố con người (CO₂ + các khí nhà kính khác) vào; nếu chỉ dùng yếu tố tự nhiên (Mặt Trời, núi lửa, quỹ đạo Trái Đất) thì không giải thích được.
  5. Đồng thuận khoa học cực cao:
    • Hơn 99% các bài báo khoa học peer-reviewed đồng ý con người (chủ yếu CO₂ từ hoạt động nhân tạo) là nguyên nhân chính của ấm lên hiện tại (nghiên cứu Cornell 2021, Lynas et al.).
    • IPCC (hàng nghìn nhà khoa học từ khắp thế giới) kết luận "unequivocal" (không thể chối cãi) rằng con người gây ra ấm lên.

So sánh hai trường hợp bạn nêu:

  • Hàng Trung Quốc → sinh ít con: Không có nghiên cứu nào chứng minh nhân quả, chỉ là tương quan thời gian (correlation ≠ causation).
  • CO₂ tăng → ấm lên: Có cơ sở vật lý + quan sát trực tiếp + mô hình + đồng thuận gần 100% từ cộng đồng khoa học.

Nếu bạn có nghiên cứu cụ thể nào (paper, dữ liệu) cho rằng CO₂ không liên quan trực tiếp, cứ share mình xem – mình sẵn sàng phân tích. Còn hiện tại, khoa học khí hậu không phải "tin tưởng mù quáng" mà dựa trên hàng núi bằng chứng tích lũy. 😊


Tao chưa coi những nghiên cứu của ông John Tyndall và Svante Arrhenius. Để tao coi cái đó sau.
Tuy nhiên, mày giải thích sao về chuyện Hâm Nóng toàn cầu từ thời băng hà đến giờ. Thời Băng Hà thì chỉ có CO2 từ rắm của động vật thôi.


Trái Đất đã trải qua nhiều chu kỳ băng hà (glacial periods) và gian băng (interglacial periods) trong hàng triệu năm qua, với sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu đáng kể. Tuy nhiên, chuyện "hâm nóng toàn cầu từ thời băng hà đến giờ" không đơn giản là một quá trình liên tục do CO₂ tự nhiên gây ra, mà là sự kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên – trong đó CO₂ đóng vai trò feedback (phản hồi) chứ không phải nguyên nhân chính ban đầu. Mình sẽ giải thích chi tiết dựa trên dữ liệu khoa học từ lõi băng và các nghiên cứu khí hậu, để phân biệt rõ với biến đổi khí hậu hiện đại do con người.

Chu kỳ băng hà và vai trò của CO₂ trong quá khứ

  • Nguyên nhân khởi đầu của chu kỳ băng hà: Các chu kỳ này chủ yếu được kích hoạt bởi những thay đổi chậm trong quỹ đạo Trái Đất quanh Mặt Trời (gọi là Milankovitch cycles), bao gồm độ nghiêng trục quay, hình dạng quỹ đạo, và vị trí quay. Những thay đổi này ảnh hưởng đến lượng năng lượng Mặt Trời đến Bắc bán cầu, dẫn đến sự ấm lên hoặc lạnh đi nhẹ ban đầu (khoảng vài phần độ C). Ví dụ, trong kỳ gian băng (như hiện nay, gọi là Holocene), lượng nắng tăng ở Bắc bán cầu làm tan băng, khởi đầu sự ấm lên.
  • CO₂ như một "feedback" khuếch đại: Khi nhiệt độ tăng nhẹ do quỹ đạo, đại dương ấm lên và giải phóng CO₂ (giống như lon nước ngọt ấm lên thì khí thoát ra nhanh hơn). CO₂ này làm tăng hiệu ứng nhà kính, khuếch đại sự ấm lên thêm. Ngược lại, khi lạnh đi, đại dương hấp thụ nhiều CO₂ hơn, làm giảm nồng độ khí quyển và lạnh thêm. Dữ liệu từ lõi băng Antarctica (như Vostok hoặc EPICA) cho thấy trong 800.000 năm qua, nồng độ CO₂ dao động từ khoảng 180 ppm (thời lạnh nhất) đến 280-300 ppm (thời ấm nhất), và thường thay đổi theo sau nhiệt độ khoảng 600-1000 năm – chứng tỏ CO₂ là phản hồi, không phải nguyên nhân chính. Tổng cộng, sự ấm lên từ cuối kỳ băng hà cuối cùng (khoảng 11.700 năm trước) đến nay là khoảng 4-5°C, nhưng diễn ra chậm trong hàng nghìn năm.
  • Nguồn CO₂ tự nhiên thời băng hà: Không chỉ "rắm của động vật" (thực ra, rắm động vật chủ yếu là metan CH₄, không phải CO₂ chính). CO₂ tự nhiên chủ yếu từ:
    • Đại dương (giải phóng/hấp thụ theo nhiệt độ).
    • Phân hủy hữu cơ trên đất (thực vật, động vật chết).
    • Hoạt động núi lửa và các quá trình địa chất chậm.
    • Nam Đại Dương (Southern Ocean) đóng vai trò lớn trong việc bơm CO₂ sâu xuống đáy biển khi lạnh, hoặc giải phóng khi ấm. Metan từ động vật (như bò, voi ma mút) có góp phần, nhưng nhỏ so với các nguồn khác, và metan cuối cùng cũng oxy hóa thành CO₂.

So sánh với biến đổi khí hậu hiện đại

  • Sự khác biệt lớn: Từ thời công nghiệp (khoảng 1850), nhiệt độ toàn cầu tăng khoảng 1.1-1.2°C, nhưng tốc độ nhanh gấp 10-100 lần so với các chu kỳ tự nhiên. Nồng độ CO₂ tăng từ ~280 ppm lên hơn 420 ppm hiện nay – vượt xa mức cao nhất trong 800.000 năm qua (và có lẽ 14 triệu năm). Tốc độ tăng CO₂ do con người (đốt nhiên liệu hóa thạch, phá rừng) nhanh hơn 250 lần so với tự nhiên sau băng hà. Ở đây, CO₂ là nguyên nhân chính (forcing), không phải chỉ feedback.
  • Tại sao biết là do con người?: Phân tích đồng vị carbon (¹³C/¹²C) cho thấy CO₂ tăng thêm có nguồn gốc từ hóa thạch, không phải đại dương hay núi lửa. Mô hình khí hậu chỉ giải thích được sự ấm lên gần đây khi tính đến yếu tố con người; nếu chỉ dùng yếu tố tự nhiên (quỹ đạo, Mặt Trời, núi lửa), nhiệt độ lẽ ra phải giảm nhẹ.

Tóm lại, chu kỳ băng hà chứng minh CO₂ là "nút điều khiển" mạnh mẽ cho khí hậu, nhưng trong quá khứ nó phản hồi theo thay đổi tự nhiên. Hiện nay, chúng ta đang "vặn nút" đó bằng cách tăng CO₂ nhân tạo, dẫn đến ấm lên nhanh chóng. Nếu muốn đào sâu hơn, các nghiên cứu của Tyndall và Arrhenius (về hiệu ứng nhà kính) là nền tảng, nhưng dữ liệu lõi băng mới là bằng chứng trực tiếp nhất. 😊


Rồi, bây giờ quay lại vấn đề "Hàng rởm, rẻ tiền của Tàu Khựa làm giảm tỉ lệ sanh con".

1) Hàng rởm rẻ tiền của Tàu Khựa dẫn đến việc mọi người dễ dàng đáp ứng những nhu cầu rẻ tiền. Nên dẫn đến lười lao động, không cần lao động. Dẫn đến tâm lý nằm dài. Từ đó cũng lười lập gia đình sanh con.

2) Khi lười lao động, thì thu nhập kém, sẽ không đáp ứng được những chi phí cho việc đẻ con và sanh con. Dấn đến tâm lý ngại lập gia đình và sanh con.

3) Các quốc gia tràn ngập hàng rởm rẻ tiền của Tàu khựa sẽ dẫn đến giết chết nền sản xuất hàng hóa trong nước. Do đó các tư bản thân hữu trong nước sẽ rời bỏ nền kinh tế sản xuất mà chỉ nhắm vào những thứ không thể nhập khẩu từ Tàu Khựa. Tức là Bất Động Sản. Tức là đẩy giá cả bất động sản tăng lên quá cao. Mà Bất Động Sản quá cao thì giới trẻ đương nhiên là sẽ không kiếm được nhà ở. Trong khi đó bọn tư bản thân hữu lại có quá nhiều nhà. Thông thường một gã cán bộ của một sở nào đó ở tỉnh Hà Lội cũng có đến 20 căn chung cư chỉ để cho thuê. Bọn đó quá nhiều tiền và quá nhiều nhà, nhưng chúng nó cũng chỉ có 2 đứa con. Khi giới trẻ không kiếm được nhà ở, thì đương nhiên chẳng ai muốn lập gia đình và có con.

4) Hàng rởm và rẻ tiền của Tàu Khựa cũng làm thay đổi mạnh mẽ trong lối sống và văn hóa. Ví dụ, trước đây muốn mua cái gì, người ta phải đi chợ hoặc đi siêu thị. Bây giờ thì chỉ nằm ườn ở nhà thì hàng cũng tự chạy đến đày nhà.

Chính vì vậy cũng làm thay đổi mật độ dân số.

Nông thôn thì vắng hoe vắng hoắt.

Hàng trăm ngôi nhà bị bỏ không.

Đồng ruộng để cỏ mọc.

Ngược lại thành phố thì đông nhung nhúc.

Tâm lý sống ở một nơi đông người nhung nhúc khiến cho ai cũng không muốn đẻ. Họ chỉ muốn vật lộn rồi phóng tinh vào bao cao su. Hoặc nếu không thì cũng phá thai.

5) Hàng rởm hàng rẻ tiền của Tàu Khựa cũng làm giảm giá mọi thứ, kéo theo thuốc tránh thai cũng rẻ và dễ tiếp cận hơn.

6) Hàng rởm hàng rẻ tiền của tàu khựa tràn ngập cũng làm mọi thứ tiện nghi trong gia đình dễ dàng hơn. Do đó giúp giảm tải những công việc ở trong nhà. Do đó người con gái ở trong nhà đỡ vất vả hơn. Do đó có nhiều thời gian hơn cho học tập. Do đó người phụ nữ được học cao hơn. Và khi được học cao hơn thì người phụ nữ thấy cuộc sống độc thân ổn hơn so với việc "phải rước một con heo về nhà chỉ vì một mẩu xúc xích".

 

Đó, người nông dân Hà Nam Ninh tao chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa hàng rởm hàng rẻ tiền của Tàu Khựa với việc giảm sanh con là như thế!


Ồ, lập luận của bạn khá chi tiết và thú vị, kiểu "chuỗi domino" từ hàng rẻ Trung Quốc dẫn đến giảm sinh con. Mình sẽ phân tích từng điểm một dựa trên logic và dữ liệu có sẵn (từ nghiên cứu kinh tế, báo cáo thống kê), để xem mối liên hệ có trực tiếp và mạnh mẽ như bạn nói không. Tóm lại trước: Các điểm bạn nêu đều có phần hợp lý về mặt suy luận, nhưng thực tế chúng chủ yếu là tương quan (correlation) chứ không phải nhân quả trực tiếp (causation) từ hàng Trung Quốc. Giảm sinh là hiện tượng toàn cầu, xảy ra ở cả nước nhập nhiều hàng Trung Quốc lẫn ít, chủ yếu do đô thị hóa, chi phí sống, giáo dục phụ nữ, và thay đổi văn hóa – không phải hàng rẻ là "thủ phạm chính". Bây giờ đi sâu từng điểm nhé.

  1. Hàng rẻ → dễ đáp ứng nhu cầu → lười lao động → nằm dài → lười lập gia đình/sinh con: Ý này nghe giống "hàng rẻ làm con người lười biếng". Nhưng thực tế, hàng nhập khẩu rẻ (từ Trung Quốc hay đâu cũng vậy) thường giảm lạm phát và tăng sức mua, giúp người dân tiết kiệm tiền cho các nhu cầu khác, chứ không trực tiếp gây "lười lao động". Ở Việt Nam, nhập khẩu từ Trung Quốc (hàng tiêu dùng, nguyên liệu) giúp giữ giá thấp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (GDP tăng trung bình 6-7%/năm gần đây), và tạo việc làm ở lĩnh vực dịch vụ/phân phối. Không có nghiên cứu nào cho thấy hàng rẻ gây "tâm lý nằm dài" – ngược lại, ở các nước phát triển, hàng rẻ giúp lao động tập trung vào công việc cao cấp hơn. "Lười lập gia đình" thì do chi phí nuôi con cao (giáo dục, y tế), không phải vì "dễ đáp ứng nhu cầu rẻ tiền". Nếu hàng rẻ làm mọi thứ dễ dàng, lẽ ra phải khuyến khích sinh con chứ?
  2. Lười lao động → thu nhập kém → không đủ chi phí sinh con → ngại lập gia đình: Đây là nối tiếp điểm 1, nhưng giả thuyết "lười lao động" chưa được chứng minh. Thực tế, ở Việt Nam và các nước nhập hàng Trung Quốc nhiều (như Mỹ, châu Âu), tỷ lệ thất nghiệp không tăng mạnh do hàng rẻ – mà hàng nhập khẩu thường thay thế sản xuất nội địa kém cạnh tranh, nhưng tạo việc làm mới ở lĩnh vực khác (dịch vụ, công nghệ). "China shock" (tăng nhập khẩu từ Trung Quốc) có làm giảm việc làm sản xuất ở Mỹ khoảng 1-2 triệu job từ 1990-2007, nhưng tổng thu nhập và năng suất lao động tăng. Ở Việt Nam, nhập siêu từ Trung Quốc lớn nhưng kinh tế vẫn tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng từ ~1.000 USD (2000) lên ~4.300 USD (2025). Chi phí sinh con cao là do đô thị hóa và lạm phát giáo dục/y tế, không phải "thu nhập kém do lười".
  3. Hàng rẻ → giết chết sản xuất nội địa → chuyển sang bất động sản → giá nhà cao → không mua nhà → không sinh con: Điểm này có phần đúng về "China shock" làm giảm sản xuất nội địa (ở Mỹ, mất job sản xuất; ở Việt Nam, một số ngành như dệt may cạnh tranh khó). Nhưng chuyển sang bất động sản không phải chủ yếu do hàng Trung Quốc – mà do chính sách đất đai, đô thị hóa nhanh, và đầu cơ (ở Việt Nam, giá nhà TP.HCM/Hà Nội tăng 5-10 lần từ 2000). Giá nhà cao thực sự làm giảm sinh: Nghiên cứu cho thấy tăng 10% giá nhà giảm 1-1.5% sinh ở Mỹ/châu Âu, vì giới trẻ khó mua nhà. Nhưng điều này xảy ra ở cả nước ít nhập hàng Trung Quốc (như Nhật, Hàn), nên không phải nguyên nhân trực tiếp từ "hàng rởm Tàu".
  4. Hàng rẻ → thay đổi lối sống (mua online) → đô thị hóa → thành phố đông đúc → không muốn sinh con: Mua sắm online (nhờ hàng rẻ, logistics tốt) đúng là thay đổi lối sống, nhưng đô thị hóa ở Việt Nam bắt đầu từ 1990s (tỷ lệ đô thị từ 20% lên ~40% hiện nay), trước khi hàng Trung Quốc "tràn ngập" mạnh (sau WTO 2007). Đô thị hóa toàn cầu gây giảm sinh: Ở thành phố, chi phí nhà ở/giáo dục cao, phụ nữ làm việc nhiều, sinh ít con hơn (tỷ lệ sinh TP.HCM ~1.3, nông thôn ~2.1). Nông thôn vắng vẻ là do di cư lao động (tìm việc làm tốt hơn), không phải trực tiếp do hàng rẻ. Thành phố đông đúc có thể làm giảm sinh do áp lực, nhưng đây là hiện tượng chung ở châu Á (Hàn, Nhật, Thái), không riêng do Trung Quốc.
  5. Hàng rẻ → thuốc tránh thai rẻ và dễ tiếp cận hơn: Thuốc tránh thai rẻ là do sản xuất hàng loạt toàn cầu (nhiều từ Ấn Độ, châu Âu), không đặc biệt từ Trung Quốc. Ở Việt Nam, chương trình kế hoạch hóa gia đình từ 1990s đã làm tránh thai dễ tiếp cận, giảm sinh từ ~3.5 xuống dưới 2. Hàng rẻ có thể gián tiếp làm mọi thứ rẻ hơn, nhưng tránh thai phổ biến do giáo dục và thay đổi văn hóa, không phải "hàng Tàu" là nguyên nhân chính.
  6. Hàng rẻ → tiện nghi gia đình dễ dàng → phụ nữ đỡ vất vả → có thời gian học tập → học cao → thích độc thân: Đúng là hàng rẻ (đồ gia dụng) giảm công việc nhà, giúp phụ nữ học tập/làm việc hơn – đây là yếu tố chính giảm sinh toàn cầu (phụ nữ học cao sinh ít con hơn, tỷ lệ ~0.5-1 con ở phụ nữ đại học). Nhưng tiện nghi này từ công nghệ toàn cầu (Mỹ, Nhật, Hàn), không chỉ Trung Quốc. Ở Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ học đại học tăng từ 10% (2000) lên ~30% (2025), do kinh tế phát triển, không phải hàng rẻ gây "thích độc thân". Ý "rước con heo về nhà vì mẩu xúc xích" nghe vui, nhưng thực tế là do bình đẳng giới và sự nghiệp.

Tổng kết: Lập luận của bạn giống như ghép các mảnh ghép kinh tế-xã hội thành một chuỗi, nhưng thiếu bằng chứng nhân quả trực tiếp từ hàng Trung Quốc. Nghiên cứu về "China shock" cho thấy tác động đến việc làm sản xuất, nhưng lợi ích tổng thể (giá rẻ, tăng trưởng) lớn hơn, và không liên kết trực tiếp với giảm sinh. Việt Nam giảm sinh từ 1.91 (2024) xuống thấp hơn, nhưng tương tự Trung Quốc (1.0), Hàn (0.7), dù Trung Quốc là nguồn hàng rẻ. Nếu hàng rẻ là thủ phạm, sao Trung Quốc cũng giảm sinh mạnh? Bạn có dữ liệu cụ thể nào (nghiên cứu, số liệu VN) để bổ sung không? Mình sẵn sàng đào sâu thêm! 😊