Liên quan đến Ba-Tư chúng ta cần tách biệt các thực thể: Nước Ba-Tư. Người dân Ba-Tư. Chính quyền thần quyền hung đồ độc tài "Islamic Republic of Iran".
Lịch sử địa lý
Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026
Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026
Do tuyên truyền của Vịt Cộng, nên chúng ta vẫn ngây thơ nghĩ rằng ngày Độc Lập là 2/9/1945
Xin thưa là KHÔNG. Vâng, cái gì LÁO XẠO mà nói hoài nó cũng thành thật.
Nếu quí vị hỏi bất cứ một cháu Ây-Ai nào: "Mày cho bác biết ngày độc lập là ngày nào?" - rất nhanh nó trả lời "2/9/1945" - Đơn giản thôi nó là cái máy học nên đương nhiên cũng bị nhồi sọ như chúng ta.
Chúng ta có quyền tuyên bố độc lập. Nhưng với các thể chế quốc tế thì họ tôn trọng CÔNG PHÁP QUỐC TẾ, mà công pháp thì tôn trọng những văn bản giấy tờ có chữ ký của chánh quyền. Cho dù chánh quyền đó có thực sự đại diện cho 100% nhân dân hay không.
Cũng giống như năm 1958, Công hàm Phạm Văn Đồng "bán" một phần lãnh thổ cho Tàu Cộng. Bây giờ cứ căn cứ vào công hàm đó, chính quyền Vịt Cộng bó tay. Do đó, dù không công khai trước nhân dân, thì chính quyền Vịt Cộng vẫn phải âm thầm thừa nhận chính phủ Việt Nam Cộng Hòa - để đủ tư cách kế thừa - để đi nói chuyện với quốc tế. Thậm chí là một chuyện nhỏ như tòa đại sứ ở Đông Kinh cũng là kế thừa lại tài sản của VNCH.
Thế nên, khi chưa có các văn bản hiệp ước quốc tế thực sự công nhận sự độc lập, thì cái tư cách "thuộc địa" vẫn nằm đó. Để đến lúc nào đó, "mẫu quốc" có quyền thôn tính lại mà quốc tế không dám phản ứng. Giống như Tàu Chệt vẫn cứ nói "Đài Loan là của Trung Quốc" mà UN có dám phản đối câu nào đâu.
Những cái dưới đây bị coi nhẹ hoặc cố tình bị coi nhẹ, nhưng nó mới lại là chính những thứ quan trọng liên quan đến độc lập của nước nhà.
1) Hòa ước Nhâm Tuất (1862): Hiệp ước Sài Gòn (Treaty of Saigon): Là văn bản nhượng đất đầu tiên. Nếu hòa ước này không bị vô hiệu hóa bởi sự đồng ý của quốc hội Pháp thì đương nhiên đến nay Sài Gòn vẫn là của Pháp.
2) Hiệp ước bảo hộ Pháp - Campuchia năm 1863: Treaty of French Protectorate over Cambodia 1863.
3) Hòa ước Giáp Tuất (1874): Hiệp ước Sài Gòn 1874 (Treaty of Saigon 1874): Công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp.
4) Hòa ước Harmand (Hòa ước Quý Mùi, 1883): Công nhận Nam Kỳ vẫn là thuộc địa trực tiếp của Pháp (từ các hiệp ước trước). Sơ bộ đặt Bắc Kỳ và Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
5) Hòa ước Patenôtre (Hòa ước Giáp Thân, 1884): Công nhận Nam Kỳ vẫn là thuộc địa trực tiếp của Pháp (từ các hiệp ước trước). Chính thức đặt Bắc Kỳ và Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
6) Sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương (17/10/1887): Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp.
6) Hiệp ước Pháp - Xiêm (Thái Lan) ngày 3 tháng 10 năm 1893: Franco-Siamese Treaty of 3 October 1893: Đồng ý đặt Luang Prabang (Lào) dưới sự bảo hộ của Pháp. Luang Prabang (Lào) sáp nhập vào Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp.
Tức là từ 1893, đối với thế giới mà nói, mọi vấn đề liên quan đến Đông Dương là phải nói chuyện với chính quyền ở Paris.
7) Năm 1940, Nhật bắt đầu tiến đánh vào Đông Dương.
8) Năm 1941, Nhật buộc Pháp phải ký vài hiệp định trong đó có Hiệp định quân sự ngày 29/7/1941: Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, Protocol Concerning Joint Defense and Joint Military Cooperation: Hiệp ước Đáclăng-Kato: Danh nghĩa của Hiệp định vẫn cho phép giữ quyền cai trị. Nhưng thực tế là mọi thứ đều năm trong tay Nhật.
Con người chúng ta có lương thiện không? và bài "Ây-Ai và cái bẫy năng suất" của Trương Trí Vĩnh
Con người chúng
ta có lương thiện không?
Câu trả lời dường
như là KHÔNG.
Chúng ta thường ví
von hình ảnh về những con thiêu thân. Trong đêm tối, nếu người ta đốt lên một đống
lửa. Thì lập tức sẽ có rất nhiều loại côn trùng nhỏ ở đâu bay đến lao vào lửa và
chết. Dù là muỗi, hay ruồi, hay kiến … chúng đều được gọi cái tên chung là “con
thiêu thân”.
Con người cũng dễ
bị thu phục bởi sự hào nhoáng giàu có của những kẻ nhiều tiền hơn là sự cảm thông
biết ơn những người nông dân chân lấm tay bùn.
Có những mâu thuẫn
tưởng chừng là hiển nhiên nhưng lại rất quái gở!
Một Minh Tuệ đi bộ
chân trần, ngày ăn một bữa, sống tối giản, không nhà, chân không giày, đầu không
mũ, không tài sản, không gây hại cho ai thì lại luôn bị công kích và chửi bới bởi
rất nhiều người. Trong khi một gã trọc đầu khác, với tấm thân đầy đặn bệ vệ, khoác
cà-sa màu vàng bước xuống từ xe Lexus, dáng đi hai hàng, thì lại được cả một
bày đàn chắp tay vái lạy.
Cái cần nhất cho
loài người là LƯƠNG THỰC, thiếu lương thực thì ai cũng sẽ điên lên ngay, thế nhưng
những người nông dân lại luôn nghèo nhất và thậm chí bị coi thường nhất. Cái điện
thoại sờ sờ, có cũng tốt mà không có cũng chẳng chết ai, ấy thế nhưng những kẻ
sản xuất ra nó lại ngồi trên đỉnh của thế giới.
Trong xã hội, đã có sự phân công lao động, nghề nào cũng đáng được tôn trọng. Cái sự tôn trọng đó cần phải tự rèn luyện kỹ lưỡng từ trong tâm.
Thế giới đang chuyển mình sang thời đại của Ây-Ai. Mọi người nên hình dung thế này: Ây-Ai nó là cái máy học. Túm lại bạn muốn nó học cái gì thì nó sẽ học cái đó rất nhanh. Để tìm hiểu về kiến thức liên quan đến vấn đề đất nước được độc lập từ 11 Tháng Ba năm 1945 chúng ta phải đọc cả hàng ngàn trang tài liệu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau và các tài liệu đó không hề dễ tìm. Nhưng Ây-Ai có thể tìm nhanh và đọc tất cả đống đó trong vài giây.
Ây-Ai nó giỏi kinh khủng như vậy. Có nghĩa là một ngày nào đó. Làm việc trên mọi cánh đồng đều là Rô-bốt Ây-Ai, LƯƠNG THỰC và của cải vật chất không còn là vấn đề lớn nữa. Khi đó con người không còn cần phải làm gì cả. Lúc đó thực sự cả thế giới đều là "Làm theo năng lực, Hưởng theo nhu cầu" phải không?
Ka ka... đừng có ảo tưởng! 😂
=====
Trương Trí Vĩnh - AI và cái bẫy năng suất
Trong nhiều năm, trí tuệ nhân tạo được quảng bá như liều thuốc tăng lực cho một nền kinh tế toàn cầu đang mệt mỏi. Năng suất được kỳ vọng tăng vọt và trở thành cú hích cho tăng trưởng toàn cầu.
Nhưng càng đi sâu vào thực tế triển khai AI, câu hỏi ngày càng khó né tránh xuất hiện: điều gì xảy ra nếu năng suất không còn là vấn đề trung tâm của nền kinh tế?
Đây không phải là một lập luận chống công nghệ. AI là có thật, đang được triển khai thật, và trong nhiều lĩnh vực, nó thực sự làm tăng hiệu quả. Vấn đề nằm ở chỗ khác. AI đang tăng năng suất ở những nơi vốn đã mạnh, trong khi các khu vực cần cú hích năng suất nhất - dịch vụ công, y tế cơ sở, giáo dục đại chúng, chăm sóc người già, hành chính - còn hưởng lợi hạn chế. Và ngay cả khi năng suất tổng thể tăng, điều đó không còn đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế theo nghĩa quen thuộc.
Thế giới hôm nay không thiếu khả năng sản xuất mà thiếu khả năng tiêu dùng.
Trong phần lớn thế kỷ 20, tăng năng suất gần như đồng nghĩa với mở rộng phúc lợi. Sản xuất nhiều hơn tạo ra nhiều việc làm hơn, tiền lương cao hơn, và một tầng lớp trung lưu đủ lớn để hấp thụ sản lượng tăng thêm. Nhưng mối liên kết đó đã yếu đi. Ở nhiều nền kinh tế phát triển, và ngày càng rõ ở các nền kinh tế đang lên, sản lượng tiềm năng đã vượt qua khả năng hấp thụ của xã hội. Vấn đề không còn là làm sao sản xuất thêm, mà là ai sẽ mua tất cả những gì đã được sản xuất ra.
Một chỉ báo quan trọng giúp thấy rõ xu hướng này là tỷ lệ thu nhập của lao động giảm dần so với tổng sản lượng - hay gọi là labor share - một xu hướng được ghi nhận ở nhiều nước phát triển. Và báo cáo gần đây cho thấy ở Mỹ, labor share đã giảm xuống khoảng 53,8% trong năm 2025, mức thấp nhất kể từ khi có số liệu, trong khi năng suất lao động tăng mạnh kể từ những năm 1980.
Bất bình đẳng thu nhập là chiếc bản lề của sự đứt gãy này. Khi thu nhập và tài sản ngày càng tập trung vào một nhóm nhỏ ở đỉnh phân phối, sức tiêu dùng của toàn xã hội không thể theo kịp tốc độ tăng năng suất. Lý do không nằm ở đạo đức hay tâm lý, mà ở những giới hạn rất vật lý của tiêu dùng.
Người giàu, ngay cả khi giàu lên rất nhanh, không thể ăn mãi tôm hùm theo tốc độ tăng tài sản. Họ không thể mua quần áo vô hạn, không thể sở hữu số lượng nhà ở tỷ lệ thuận với danh mục đầu tư, và cũng không thể tiêu dùng vật chất gấp mười lần chỉ vì tài sản tăng gấp mười. Đến một ngưỡng nhất định, tiêu dùng của nhóm thu nhập cao bão hòa.
Khi đó, phần thu nhập tăng thêm không đi vào nền kinh tế thực, mà chảy vào tài sản tài chính. Tiền tìm đến cổ phiếu, bất động sản, trái phiếu, các quỹ đầu tư và những cấu trúc tài chính ngày càng phức tạp - những nơi có thể hấp thụ vốn mà không cần thêm người mua hàng hóa hay dịch vụ. Đây là một cơ chế kinh tế rất cơ bản, nhưng có sức giải thích mạnh: nó lý giải vì sao giá tài sản liên tục tăng trong khi tiêu dùng đại chúng và đầu tư sản xuất lại ì ạch. Khi cầu hàng hóa không đủ mạnh, tiền buộc phải tìm lối thoát khác.
AI, thay vì phá vỡ vòng lặp này, có nguy cơ làm nó trầm trọng hơn. Năng suất dựa trên công nghệ, đặc biệt là AI, không phân phối trung lập. Nó thưởng lớn cho vốn, kỹ năng cao và sở hữu trí tuệ, trong khi gây áp lực lên lao động trung bình và những công việc dễ bị thay thế. Thu nhập từ vốn tăng nhanh hơn thu nhập từ lao động; tiền lương trung vị tăng chậm hơn GDP - một xu hướng đã được ghi nhận nhất quán bởi nhiều tổ chức quốc tế và học giả trong hơn hai thập kỷ qua.
Có một nguyên lý kinh tế học đơn giản thường bị lãng quên trong các cuộc thảo luận về AI: khuynh hướng tiêu dùng cận biên. Người thu nhập thấp và trung bình có xu hướng tiêu gần như toàn bộ phần thu nhập tăng thêm, trong khi người thu nhập rất cao thì không. Với họ, phần lớn thu nhập tăng thêm được tiết kiệm, đầu tư tài chính hoặc tích lũy tài sản.
Khi thu nhập dồn lên phía trên, tổng cầu tăng chậm hơn tổng thu nhập, ngay cả khi năng suất, lợi nhuận doanh nghiệp và chỉ số chứng khoán tiếp tục đi lên. Đây không phải là nghịch lý, mà là toán học của phân phối thu nhập. Một nền kinh tế có thể trở nên ngày càng hiệu quả trong sản xuất, nhưng ngày càng kém hiệu quả trong việc tạo ra người mua.
Một thuật ngữ kinh tế học mô tả tình trạng này là "secular stagnation" - hay đình trệ kéo dài - được Lawrence H. Summers đưa trở lại chú ý sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Nó mô tả một nền kinh tế thiếu cầu dài hạn, nơi dù lãi suất thấp đến gần 0 hay dưới 0 cũng không thể kích thích đủ đầu tư và tiêu dùng để đạt được tăng trưởng tiềm năng.
Nghịch lý của kỷ nguyên AI nằm ở những con số biết nói: Trong khi doanh thu của NVIDIA tăng vọt 262% chỉ trong một năm nhờ cơn khát chip xử lý, thì ở phía ngược lại của nền kinh tế, thu nhập ròng của ngành nông nghiệp toàn cầu - nơi nuôi sống và tạo việc làm cho hàng tỷ người - lại được dự báo sụt giảm đáng kể. Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của secular stagnation: Tiền không thiếu, năng suất không thiếu, nhưng chúng bị "bẫy" ở thượng nguồn tài chính. Khi giá trị tạo ra bởi AI chỉ nằm lại trong bảng cân đối kế toán của Big Tech hoặc biến thành các đợt mua lại cổ phiếu (stock buybacks), cầu tiêu dùng đại chúng sẽ khô héo, và lời hứa về một kỷ nguyên thịnh vượng chung sẽ mãi là ảo ảnh.
Điều này cũng lý giải vì sao sự hoài nghi về lời hứa "AI sẽ tăng năng suất" ngày càng lan rộng. Không phải vì AI không làm được việc, mà vì những nơi AI làm tốt nhất không phải là những nơi nền kinh tế cần nhất. Tối ưu hóa quảng cáo, giao dịch tài chính, logistics toàn cầu hay lập trình phần mềm chắc chắn mang lại lợi ích nhưng chúng không tự động mở rộng sức mua đại chúng.
Trong khi đó, những lĩnh vực quyết định chất lượng tăng trưởng dài hạn - giáo dục phổ thông, y tế cơ sở, chăm sóc xã hội, hành chính công - lại khó được "AI hóa" nhanh chóng, vì chúng đòi hỏi tương tác con người, thể chế và niềm tin xã hội hơn là thuật toán.
Vì thế, vấn đề cốt lõi của nền kinh tế AI không nằm ở việc AI có tăng năng suất hay không, mà ở chỗ ai được hưởng phần năng suất đó, và liệu nó có chuyển hóa thành cầu hay không. Nếu không, thế giới có thể bước vào một trạng thái kỳ lạ: năng suất cao, lợi nhuận cao, giá tài sản cao - nhưng tăng trưởng thấp và bất ổn xã hội tăng.
Nghịch lý của kỷ nguyên AI nằm ở những con số biết nói: AI có thể khiến vài tập đoàn như NVIDIA tăng trưởng doanh thu vượt trội, nhưng nếu phần lớn người lao động không thấy thu nhập thực sự cải thiện, thì thị trường tiêu dùng đại chúng sẽ kém hấp thụ, và năng suất cao không còn là lời hứa cho tăng trưởng, mà chỉ là lời nhắc rằng sản xuất chỉ có ý nghĩa khi người tiêu dùng đủ khả năng hấp thụ nó.
Với một nền kinh tế có tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn đáng kể và thu nhập vẫn ở nhóm dưới như Việt Nam, đây có thể là một lời nhắc nhở đáng kể.
Trương Trí Vĩnh
=====
Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026
ÂY-AI với TẾT VIỆT NAM
Khi mọi người thấy tôi dùng từ "TẾT VIỆT NAM" hẳn là thấy hơi lạ. Vâng đây chính là vấn đề của mấy kẻ đi tha hương như tụi tôi.
Mỗi khi Tết đến xuân về, mấy kẻ người nước ngoài cũng có biết sơ sơ là sắp có TẾT VIỆT NAM, nhưng khi hỏi về TẾT của mình họ lại cứ quen miệng dùng từ "Chinese New Year". Mỗi lúc như vậy, tôi lại tối SẦM cái mặt lại và nói "If you cannot say "VIETNAM New Year", you can say "LUNAR NEW YEAR", WTF you say "Phucking new year"?"
Vì vậy tôi muốn thử xem mấy cháu ÂY-AI được dạy dỗ như thế nào về khái niệm này. Tôi đã hỏi 2 cháu GROK và cháu CHATGPT cùng 2 câu hỏi. Tôi chụp lại màn hình câu trả lời của 2 cháu ấy như dưới đây.
GROK:
CHATGPT:
Vì tôi hỏi mấy cháu bằng tiếng Việt, nên có lẽ các cháu đã lựa chọn câu trả lời để làm hài lòng người Việt chăng?
Do vậy tôi đã cố tình hỏi lại bằng tiếng English xem sao. Nhưng có lẽ chúng nó đều đã biết trước tôi là người Việt thì phải.
GROK:
CHATGPT:
Để kiểm tra lại xem mấy cháu ÂY-AI sẽ nói gì, tôi đặt câu hỏi mang tính quốc tế một chút. Tới đây thì các cháu ÂY-AI đã ngang nhiên dùng từ "Phucking Chinese New Year" - con bà nó!
GROK:
CHATGPT:
Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026
Nguyễn Gia Việt - Đi bầu là xử dụng quyền công dân
Nguyễn Gia Việt - Người Nam Kỳ viết chữ xử dụng cho trúng chánh tả
Gia Việt hay xài chữ xử dụng, vẫn bị một ít người sửa lưng và chửi thậm tệ hoài.
Kệ!
Bạn bè tôi vẫn đang viết xử dụng.
Một cái băng rôn trước 1975 là đủ bằng chứng. Băng rôn bầu cử Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa đàng hoàng có chữ xử dụng. Có hình, có sách làm chứng nữa.
Tôi tin vào chánh tả của thời trước 1975 của Việt Nam Cộng Hòa khi xử dụng là đúng chánh tả, rồi được ông bà mình cũng những cô chú học trước 1975 chứng nhận rằng trước 1975 được cô giáo dạy là xử dụng.
Trước 1975 học giả Nguyễn Hiến Lê viết sử dụng trong sách của ông và bị người Miền Nam phản ứng, học giả là người gốc Bắc rặc.
Có những vấn đề đừng bao giờ lấy tự điển ra cố giải thích. Mấy ông làm tự điển cũng phải moi từ cuộc sống ra thôi. Thí dụ như dòng sông và cơn dông Miền Nam qua tự điển thành "giòng sông" và "cơn giông" kiểu Bắc.
Chẳng hạn hỏi đường thì hỏi miệng, hỏi người dân chắc ăn hơn tra bản đồ hoặc map trên google.
Xử dụng có bà con với cư xử, xử thế, xử trí, xử lý của "bán họ hàng xa mua láng giềng gần" nhiều hơn là "sử" của lịch sử.
Làm ơn bớt uốn éo khi chụp mũ chữ xử dụng là của người Bắc phát âm ở Miền Nam!
Không thể nói âm X là người Bắc và âm S là của người Miền Nam. Nói vây là không hiểu âm luật kiểu Miền Nam. Người Miền Nam không uốn lưỡi chữ S. Âm chữ X có nhiều ở cửa miệng người Miền Nam.
Người Miền Bắc mua đồ sẽ nói "Chỉ tôi cách dùng?" thì người Miền Nam sẽ nói "Chỉ tôi cách xài?"
Cùng chữ 使用 xử dụng Hán Việt mà người Bắc nói qua thành chữ "dùng" nhưng dân Miền Nam đâu có dùng, Miền Nam là xài, xây xài.
Cái thứ hết xài. Nam Kỳ gánh nước về xài, đổi nước về xài. Người Miền Bắc viết "tiêu dùng" thì Nam có thể viết tiêu xài, tiêu xài như nước .
Âm chữ X có nhiều ở cửa miệng người Miền Nam.
Tên xã gốc Khmer Xà Phiên là 1 xã của huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Ở Miền Đông có Xà Bang, Hà Tiên có Xà Bàn, Xà Xía. Ẩm thực Miền Nam có xá xíu, xá pấu, xà bần, xà lỉn, pạc xỉu.
Ở Nam Kỳ có nhiều xứ tên bắt đầu bằng Xẻo, thí như Xẻo Lá. Xẻo Da….Hoàn toàn không phải là "Sẻo".
Xẻo là con rạch nhỏ xíu.
Liệt kê ra: Xẻo Gừa ở Sóc Trăng, Xẻo Sầm ở Bạc Liêu, Xẻo Vông, Xẻo Môn ở Cần Thơ, Xẻo Nga ở Vĩnh Long, Xẻo Quít ở Đồng Tháp.
Kiên Giang miệt thứ là trùm Xẻo ,có Xẻo Giá, Xẻo Rô ,Xẻo Da, Xẻo Cui, Xẻo Công, Xẻo Chác, Xẻo Quao, Xẻo Ngát, Xẻo Lá, Xẻo Lùng, Xẻo Đước, Xẻo Bần, Xẻo Lúa, Xẻo Nhào, Xẻo Cạn Ngọn, Xẻo Dinh, Xẻo Xu….
Kinh xáng là chữ đặc biệt của riêng Miền Nam. Miền Bắc không có Kinh Xáng. Xáng do chữ Pháp chaland - xà lan mà ra.
“Củ năn ngăn trong lòng son đỏ
Mấy lời to nhỏ: Bạn bỏ sao đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây kia liệt máy, anh mới đành bỏ em”.
Có hàng ngàn địa danh ở lục tỉnh bắt đầu từ chữ Xáng như: Vàm Xáng, Xáng Cụt, Xáng Lớn, Xáng Bốn Tổng, Xáng Xà No, Xáng Lái Hiếu, Xáng Nàng Mau, Xáng Bà Kẹo, Xáng Tắc Vân, Xáng Chắc Băng, Cầu Xáng, Chợ Cầu Xáng, Xáng Mới, Xáng Nổ, Xáng Chìm, Xáng Chàm…
Từ kinh Xáng Xà No, Pháp đào những con kinh nhỏ chạy ngang dẫn nước vô điền, cứ vài trăm mét lại đào một con kinh, địa danh Một Ngàn, Ngàn Rưỡi, Bảy Ngàn, Tám Ngàn tới Mười Bốn Ngàn Rưởi … có từ đó.
Người Miền Nam nói xối nước, người Bắc lại kêu là "giội nước". Về quê tắm nước mưa chứa trong lu mái đầm mát nên tụi nhỏ xối ào ào.
Bằng chứng:
"Thằng nhỏ vỗ trên lưng con chó vài cái rồi đi lại chỗ khạp nước để trước cửa đứng mà kêu heo:"Quắn, quắn ột! Quắn ột, ột, ột… Con heo núc ních đi lại, thằng nhỏ mới lấy gáo múc nước trong khạp xối mà kỳ rửa bùn đất sạch sẽ rồi lùa vô nhà". (Cay đắng mùi đời, Hồ Biểu Chánh 1923.)
Cái cần xé chỉ có ở Miền Nam.
Người Nam Kỳ kêu cái giỏ tre đương bằng tre già rất khít, có hình tròn miệng rộng, đáy sâu, có hai quai, thường để đựng đồ đạc khi chở đi trên ghe trên xe tải là cái cần xé. Người Bắc kêu là cái bồ.
Chở bánh mì cũng bằng cần xé, chở trái cây cũng giỏ cần xé.
Cần xé là gì thì chẳng ai rõ, tên Khmer hay Tàu… hay Việt? đừng giải thích cần xé là kiểu xé bỏ.
Cái chữ "xé" có trong cất nhà có nghĩa là xé, là tét làm hai. Lá xé là cái tàu dừa nước xé làm hai phơi khô mà lợp nhà. L
Chỉ có người Miền Nam mới có kiểu xấn xổ và chửi thì xối xả, xáng xả. Đánh thì xáng vài bạt tai vô mặt, người Miền Bắc làm gì có.
Người Miền Bắc mới là người thích xài âm S trong ngôn ngữ:
Trong hầu đồng kiểu Bắc ta thấy có Cô Chín Sòng Sơn được thờ tại Đền Sòng Sơn. Quang Dũng làm thơ ca ngợi Sài Sơn:
“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoát thổi đêm trăng."
Miền Bắc có Sài Sơn, Sóc Sơn, Sầm Sơn.
Trong ẩm thực Miền Nam có món sương sâm, sương sáo, sương sa. Nhưng chúng ta nghe đọc là xương xâm, xương xáo.
"Ai sương sâm sương sáo sương sa hột lưu đây!"
Người Bắc kêu sương sâm, sương sáo là "thạch đen" hoặc "thạch găng".
Nói Xài Gòn nhưng viết cho mềm phải là Sài Gòn. Điều đó chứng tỏ người Miền Nam phân biệt rõ chữ X và S. Thành ra xử dụng là một lựa chọn đúng, nó cũng như xuất chiếu phim vậy!
Trước 1975 là xử dụng xuất chiếu phim. Và sau 1975 theo chuẩn Bắc bị đổi thành "sử dụng" và "suất chiếu phim". Cơm phần Miển Nam bị biến thành cơm suất, suất cơm.
Xum xuê hay sum suê? Nhiều người khẳng định,kết luận dân Bắc phát âm hay lộn từ âm có chữ S thành chữ X. Nhưng thực tế hình như là ngược lại. Thí dụ là chữ xum xuê.
Thí dụ đoạn văn sau trích từ "Đoạn tình, chương 2" của Hồ Biểu Chánh:
"Trong hàng rào đúc sạn rào dọc theo lộ Cây Quéo, mà đối với cửa cái trong nhà ngay bót, thì có cây xoài thật lớn, gốc cả ôm, tàn chần vần, lá xum xuê."
Người Miền Nam viết xum xuê rõ ràng, nói có sách mách có chứng. Xin đừng có lý luận bịnh hoạn rằng Hồ Biểu Chánh nói xum xuê có âm chữ X là... kiểu Bắc Kỳ nghen?
Trong khi thơ văn, báo chí của người Miền Bắc đều viết sum suê và sau 1975 dạy học trò Miền Nam viết sum suê và cho là đúng chánh tả (??)
Từ xum xuê thành "sum suê" chứng tỏ người Bắc mới ngọng chữ S.
Vua tiếng Việt chương trình ngày 28/10/2022 yêu cầu: "Hãy viết lại cho chính xác từ "xum xê". Người chơi đưa ra cách viết xum xuê, nhưng không được chấp nhận, vì "chưa chính xác".
Chữ xum xuê có 6 cuốn tự điển ghi nhận mà sau 1975 vẫn bị đá bỏ đó thôi.
Kết luận:
Khi nói một vấn đề và tạm kết một vấn đề thì chúng ta coi tự điển, và quan trọng là không phải tự điển trên sách, phải coi tự điển sống là thực tế của xã hội, từ chính con người nhân chứng.
Chữ xử dụng, xuất chiếu, chia xẻ bị thủ tiêu sau 1975, chữ xum xuê bị thủ tiêu, hai chữ này có ai dám nói dựa vào tự điển?
Viết lại một lần nữa:
Tôi tin vào chánh tả của thời trước 1975 của Việt Nam Cộng Hòa khi xử dụng, xuất chiếu, xum xuê là đúng chánh tả, được ông bà mình chứng nhận rằng trước 1975 được cô giáo dạy là xử dụng, xuất chiếu.
Vậy chúng ta, người Miền Nam hãy viết cho đúng chánh tả là xử dụng và xuất chiếu, cũng như xum xuê.
Vậy là xong.
Nguyễn Gia Việt
Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026
2026 Dân mình quan tâm bầu cử Nhật hơn bầu cử trong nước
Nhân chuyện năm nay - 2026 này - AE VN ta lại ít quan tâm đến bầu cử quốc hội trong nước (bầu hình thức) hơn là bầu cử tại Nhật Bản.
Số là trước khi bầu
cử tại Nhật, có một số người VN đòi đi bỏ phiếu bầu cử hệ thống quốc hội Nhật Bản.
Một số khác thì đả kích mạnh mẽ việc xiết cơ chế “người nước ngoài tại Nhật”. Một
số khác thì phán kiểu “bầu cử ngày 8 Tháng Hai 2026 ở Nhật là bầu cử bởi “cảm xúc”
là chính… vân vân… mây mây…
Người viết trình bày
bài này hơi lê thê một chút.
Trước tiên là về hệ
thống Tam Quyền Phân Lập ở Nhật – Đây là một ước ao của người viết – tiếc là dải
đất hình chữ S có đảng từ 1930, có độc lập từ 1945, có hòa bình từ 1975, mà đến
nay Tam Quyền Phân Lập vẫn là giấc mơ hão. Trong khi ở Nhật, người ta chậm trẽ hơn
chúng ta trong mấy thứ, mà họ có Tam Quyền Phân Lập. Nhật thua trận năm 1945 và
đỏ nát. Đến 1947 Nhật có Hiến Pháp mới. Cũng từ 1947 khi có Hiến Pháp mới, Nhật
hình thành Tam Quyền Phân Lập và mô hình đó tồn tại đến hôm nay, chưa thay đổi.
Và năm 1952 Nhật mới có độc lập. Okie! Kẻ nào nói “Phải giàu có và phát triển thì
mới có Tam Quyền Phân Lập” thì hãy nhìn vào Nhật Bản đê!
Hệ thống Tam Quyền
Phân Lập ở Nhật đại khái như sau:
11) Thiên
Hoàng: Là biểu tượng cho sự đoàn kết dân tộc. Hoàng gia không tham gia điều hành
bất cứ việc gì.
22) Quyền
Lập Pháp: Quốc Hội gồm Thượng Viện và Hạ Viện. Chúng ta sẽ nói chi tiết ở dưới.
33) Quyền
Hành Pháp: Nội Các: Đứng đầu nội các là Thủ Tướng – hiện tại là nữ Takaichi Sanae.
Nội các do Quốc Hội bầu ra.
44) Quyền
Tư Pháp: Các tòa án: Hoàn toàn độc lập. Chúng ta sẽ nói chi tiết ở dưới.
A) Quyền Lập Pháp:
A1) Bầu cử quốc hội
như thế nào?
A11) Bầu Hạ Viện:
Hạ Viện có 465 dân biểu chuyên trách. Không có kiêm nhiệm. Trong đó có 289 dân biểu
được bầu trực tiếp cá nhân. Và 176 dân biểu được chọn theo bầu cử lựa chọn đảng
phái. Nhiệm kỳ 4 năm. Tuy nhiên, Thủ tướng có quyền giản tán hạ viện và bầu cử sớm.
Sau khi bầu cử, Hạ Viện sẽ họp phiên toàn thể đầu tiên để bầu chủ tịch hạ viện mới.
Nghị sĩ mới nhậm chức từ phiên họp này. Nhiệm kỳ 4 năm. Thì lần bầu cử tiếp theo
sẽ là thời hạn 4 năm tính từ phiên họp toàn thể này.
A111) Dân biểu hạ
viện bầu trực tiếp cá nhân: Toàn bộ Nhật Bản chia thành 289 đơn vị bầu cử. Mỗi đơn
vị bầu một dân biểu đại diện cho mình. Dân số Nhật Bản năm 2026 ước tính là 122.7
triệu. Số cử tri đăng ký là 103,517,115 người. Do đó chia trung bình mỗi đơn vị
bầu cử có khoảng 103,517,115/ 289 = 358 ngàn người. Tuy nhiên, Nhật Bản không điên
điên như Mỹ, số 358 ngàn chỉ là số để lấy chuẩn, chứ họ phân chia đơn vị bầu cử
vẫn tôn trọng đơn vị hành chính và địa lý. Bởi thế nên đơn vị bầu cử Sapporo là
đông cử tri nhất khoảng 463 ngàn người. Trong khi địa hạt 1 ở Tottori là số cử tri
vắng nhất khoảng 229 ngàn người.
Có hơn 103 triệu cử
tri, nhưng ngày 8 Tháng Hai năm 2026 vừa rồi chỉ có khoảng hơn 58 triệu người đi
bầu, đạt hơn 56%. Ka ka… AE yêu nước sẽ nhào dzô trề môi bĩu mỏ nói là thua xa tỉ
lệ 99.99% ở nhà mình.
Cử tri đi bầu sẽ viết
tên người mình chọn lên lá phiếu số 1. Chỉ chọn duy nhất 1 người. Viết linh tinh
hoặc tên 2 người, hoặc viết tên đảng thì coi như là lá phiếu bất hợp lệ.
Người nào đạt số phiếu
nhiều nhất là thắng. Chỉ cần hơn 1 phiếu là thắng. Không cần phải thắng quá bán
như kiểu bầu cử Mỹ. Ví dụ anh AAA đạt 35%, cô BBB đạt 34%, cháu CCC đạt 31%, thì
anh AAA sẽ đắc cử tại đơn vị đó. Và vào Hạ Viện ngồi.
Tại mỗi đơn vị bầu
cử, sẽ có từ một đến 2 văn phòng của nghị sĩ đắc cử. Văn phòng phải mở cửa hàng
ngày. Phải có thư ký trực văn phòng. Cử tri trong khu vực bầu cử đó, dù là người
không bỏ phiếu cho nghị sĩ đó, thì có quyền đến thẳng văn phòng trình bày điều mình
muốn nói, không cần phải hẹn trước. Nghị sĩ đã đắc cử phải lắng nghe và ghi xuống
văn bản.
Ở trong nước mình,
khi đi bỏ phiếu mình không biết tên của mấy đứa trên lá phiếu là những đứa nào ka
ka... đến khi nó vào Cuốc Hội ngồi, mình cũng không biết đứa nào đại diện cho mình.
A112) Dân biểu hạ
viện bầu theo đảng: Bầu 176 dân biểu: Toàn quốc Nhật Bản chia thành 11 khối bầu
cử. Một khối gồm vài tỉnh. Và số ghế được phân bổ dựa theo dân số của từng khối.
Ví dụ Bắc Hải Đạo có 8 ghế. Đông Kinh có 19 ghế. Toàn bộ Cửu Châu là một khối được
20 ghế.
Trước khi bầu cử,
các đảng tranh cử trong khối sẽ nộp danh sách ứng viên của đảng đóng kín cho ủy
ban bầu cử. Danh sách này không được thay đổi cho đến khi bầu cử xong.
Cử tri đi bầu sẽ viết
tên đảng lên lá phiếu số 2: Chỉ được viết tên đảng, viết tên cá nhân thì coi như
là phiếu không hợp lệ.
Sau khi đếm phiếu,
dân biểu được phân bổ cho các đảng theo công thức D'Hondt – ドント式
Lấy ví dụ: Một khối
được bầu 6 ghế và có 4 đảng tranh cử. Kết quả đảng DDD được 1,200 phiếu. Đảng EEE
được 900 phiếu. Đảng FFF được 600 phiếu, đảng GGG được 420 phiếu. Phân bổ phiếu
như sau: Gọi s là số ghế đảng đã được nhận. Ban đầu tất cả các đảng có s=0
Lượt một: Chia cho
1+s = 1 : Đảng DDD được: 1,200 : 1 =1,200 cao nhất: Đảng DDD được 1 ghế.
Lượt hai: Chia cho
1+s: Lúc này đảng DDD có s = 1; ba đảng còn lại vẫn là s = 0. Vậy đảng DDD có kết
quả là 1,200 : 2 = 600. Đảng EEE được 900 : 1 = 900 vậy lần này đảng EEE cao nhất,
được phân bổ 1 ghế.
Lượt ba: 1 + s của
đảng DDD và đảng EEE đều bằng 2, và của hai đảng con lại thì 1+s đều là 1. Vậy đảng
DDD có kết quả là 1,200 : 2 = 600. Đảng EEE được 900 : 2 = 450. Đảng FFF 600 : 1
= 600 vậy lần này đảng DDD và đảng FFF cùng được 600 cao nhất, mỗi đảng được phân
bổ 1 ghế. Sau lần này đã có 4 ghế được phân bổ. DDD 2 ghế, EEE 1 ghế, FFF 1 ghế.
Còn lại 2 ghế.
Lượt bốn: 1 + s của
DDD là 3; 1 + s của EEE và của FFF cùng là 2; đảng GGG 1 + s vẫn là 1. Vậy kết quả
chia như sau: DDD: 1,200 : 3 = 400; EEE: 900 : 2 = 450; FFF: 600 : 2 = 300; GGG:
420 : 1 = 420. Theo kết quả này đảng EEE (450) được thêm 1 ghế.
Lượt năm: 1 + s của
DDD và EEE là 3; 1 + s của FFF là 2; đảng GGG 1 + s vẫn là 1. Vậy kết quả chia như
sau: DDD: 1,200 : 3 = 400; EEE: 900 : 3 = 300; FFF: 600 : 2 = 300; GGG: 420 : 1
= 420. Vậy ghế cuối cùng được phân bổ cho đảng GGG.
Kết quả khối này:
DDD: 2 ghế; EEE: 2 ghế; FFF: 1 ghế; GGG: 1 ghế.
Căn cứ vào danh sách
các đảng đã nộp từ trước ủy ban bầu cử sẽ lấy ra tên người thắng cuộc trong danh
sách từ trên xuống. Nếu người đầu danh sách đã thắng cử trong bầu cử trực tiếp cá
nhân, thì lấy người tiếp theo.
A12) Bầu cử Thượng
Viện:
Thượng viện có 248
ghế: Nhiệm kỳ 6 năm: Nhưng bầu cử so le: Cứ 3 năm bầu cử lại một nửa số ghế thượng
viện. Thượng viện không bị giải tán. Nên kỳ bầu cử là cố định.
Trong đó:
148 ghế được bầu theo
cá nhân ở 45 khu vực. Căn cứ vào dân số, có khu vực nhiều ghế, có khu vực ít ghế.
Ví dụ khu vực Đông Kinh là 12 ghế. 148 ghế thượng viện này được chia đôi và bầu
so le 3 năm một lần. Ví dụ Đông Kinh 12 ghế, thì cứ 3 năm một lần bầu lại 6 ghế
hết nhiệm kỳ 6 năm, còn những ai mới ngồi 3 năm thì chưa bầu lại.
100 ghế được bầu theo
đảng cho toàn quốc, không chia khu vực. Cũng bầu so le, tức là 3 năm bầu lại 50
ghế hết nhiệm kỳ.
A121) Bầu thượng viện
cho cá nhân theo khu vực (45 khu vực):
Lấy ví dụ khu vực
Đông Kinh có 12 ghế thượng viện. Tới kỳ bầu cử có 6 ghế hết nhiệm kỳ 6 năm phải
bầu lại. Ứng cử viên bao nhiêu người cũng được.
Cử tri đi bầu chỉ
ghi một tên mà cử tri chọn trên tờ phiếu số 1. Ghi bất cứ gì khác hoặc ghi 2 tên
là phiếu không hợp lệ.
Sau khi đếm phiếu,
xếp thứ tự ứng cử viên theo số phiếu giảm dần. Những ứng cử viên từ 1 đến 6 sẽ thắng
cử và vào thượng viện ngồi nhiệm kỳ mới.
A122) Bầu thượng viện
cho đảng theo toàn quốc: Nhóm này có 100 nghị sĩ: Mỗi 3 năm có 50 nghị sĩ hết nhiệm
kỳ cần bầu lại.
Cử tri đi bầu viết
tên đảng vào tờ phiếu số 2. Tuy nhiên nếu viết tên cá nhân vẫn được chấp nhận. Ví
dụ viết tên đảng LDP là “vote” cho đảng LDP. Nhưng nếu viết Takaichi Sanae thì cũng
là “vote” cho đảng LDP. Nếu viết tên một cá nhân độc lập không đảng phái trên tờ
phiếu số 2 thì lá phiếu vẫn hợp lệ nhưng không được đếm cho đảng nào.
Sau khi đếm phiếu,
thì số ghế được phân bổ cũng theo công thức D'Hondt – ドント式 như trên. Tuy nhiên danh sách ứng viên mỗi đảng lại không đóng kín như bầu Hạ
Viện – không cần theo thứ tự. Nếu đảng được phân ghế, thì người được ghi tên cá
nhân nhiều nhất sẽ được chọn trước. Tuy nhiên nếu đảng có chỉ định ứng viên đặc
biệt, thì ứng viên đặc biệt sẽ được chọn trước.
A2) Cả lưỡng viên
quốc hội đều làm nhiệm vụ Lập Pháp. Một bộ luật cần phải được thông qua ở cả 2 viện.
Tuy nhiên nếu có luật nào đó mà không được thượng viện thông qua, nhưng hạ viện
thông qua với 2/3 dân biểu thì thượng viện không cản được.
A3) Hạ viện thông
qua Ngân sách và các Hiệp ước quốc tế, không cần Thượng viện phê chuẩn.
A4) Hạ viện bầu Thủ
Tướng và nội các. Do đó đánh Thủ Tướng mạnh nhất cũng là Hạ Viện.
B) Quyền hành pháp:
Thực hiện bởi Nội Các. Thủ tướng được bầu bởi quốc hội sẽ thành lập nội các và trình
quốc hội phê duyệt. Theo Hiến Pháp, hơn 50% thành viên nội các phải là nghị sĩ
(thượng viện, hạ viện). Tuy nhiên, theo thông lệ, các bộ trưởng được chọn đều là
nghị sĩ được bầu. Thành viên nội các vẫn có quyền kiêm nhiệm nghị sĩ. Vẫn có quyền
biểu quyết trong quốc hội.
Trên đây nói về Quốc
Hội và Chính Phủ mới chỉ là chánh quyền Trung Ương. Ở Nhật còn có các chức vụ địa
phương từ Tỉnh Trưởng trở xuống, cũng do dân bầu và độc lập hoàn toàn với chính
quyền Trung Ương. Nghĩa là Thủ Tướng không có quyền bổ nhiệm hay phế truất một vị
Tỉnh Trưởng.
C) Quyền Tư Pháp:
Hệ thống Tư Pháp được chia ra thành 2 là: Tòa Thượng Thẩm và các Tòa Cấp Dưới.
C1) Tòa Thượng Thẩm
có 15 Thẩm Phán: Trong đó có 1 người là Chánh Án.
Nội Các đề cử Chánh
Án Tòa Thượng Thẩm trình lên Thiên Hoàng. Thiên Hoàng thực hiện nghi thức bổ nhiệm.
Nội Các trực tiếp
lựa chọn và bổ nhiệm 14 Thẩm Phán còn lại cho Tòa Thượng Thẩm.
C2) Các Tòa cấp dưới:
Tòa Thượng Thẩm lựa chọn danh sách các Thẩm Phán cho các Tòa cấp dưới trình cho
nội các bổ nhiệm.
C3) Phê chuẩn thế
nào: Khi một thẩm phán (thượng thẩm, hoặc cấp dưới) được bổ nhiệm mà chưa được phê
chuẩn. Thì đến kỳ bầu cử gần nhất sẽ có phiếu phê chuẩn cho thẩm phán đó. Cử tri
nếu không đồng ý sẽ đánh dấu “X” vào tên của thẩm phán đó. Nếu có hơn 50% số phiếu
đánh dấu “X” thì thẩm phán đó bị phế truất ngay lập tức.
C4) Một thẩm phán
đã qua phê chuẩn bởi cử tri thì sẽ làm việc hết nhiệm kỳ 10 năm. Sau đó có thể bổ
nhiệm lại. Hoặc làm việc đến tuổi nghỉ hưu bắt buộc là 65 tuổi Tòa cấp dưới, 70
tuổi Tòa Thượng Thẩm.
C5) Phế truất một
thẩm phán: Nếu một thẩm vướng vào tội lỗi, thì việc phế truất phải thông qua đàn
hặc phế truất thực hiện bởi Hạ Viện và Thượng Viện.
Từ đó ta thấy, Thủ
Tướng có quyền bổ nhiệm thẩm phán, nhưng không có quyền phê chuẩn, cũng không có
quyền phế truất. Do đó các Thẩm Phán làm việc độc lập không phụ thuộc đảng nào đang
nắm đa số trong quốc hội. Thẩm Phán có quyền lôi cả Thủ Tướng (chính người vừa bổ
nhiệm mình) ra tòa, nếu có bằng chứng phạm tội.
Ở nước Xã Nghĩa Thiên
Đường Tây Phi Luật Tân không gã Thẩm Phán nào dám làm việc độc lập. Bởi chánh án
tòa Thượng Thẩm ở đó cũng dễ dàng bị Thủ Tướng nó cho về vườn đuổi gà… ka ka…
=======
Tới câu chuyện ngày
hôm nay:
D) Có một số công
dân Việt Nam đòi quyền bầu cử tại Nhật Bản với lý lộn rằng “em đóng thuế như người
Nhật”
Đây là một lô-gic
SAI một cách hiển nhiên rõ ràng.
D1) Quyền bỏ phiếu
bầu cử một cách hiển nhiên không cần giải thích đó là chỉ dành cho người nào có
quyền công dân, tức là có quốc tịch. Quyền công dân là không ai xin, và cũng không
ai có quyền cho. Nó giống như trong gia đình người ta, chỉ có con đẻ mới được
quyền biểu quyết những chuyện đại sự ở trong nhà. Một người hàng xóm sang đòi
góp tí tiền rồi đòi có quyền bầu người lãnh đạo trong nhà sao?
Định dùng lý luận
rằng "đóng thuế như công dân thì tự nhiên có quyền công dân" là một
lý luận vớ vẩn. Đem ra lòe bịt thiên hạ.
D2) Luật thuế: Ai
có thu nhập thì phải nộp thuế. Đó là luật.
Ở Nhật người nào
không có thu nhập thì người đó không phải chịu thuế.
Hoặc có thu nhập
không phải chịu thuế thì cũng không phải đóng thuế.
Ví dụ: Các cháu
bé 16 tuổi bắt đầu có quyền đi làm thêm, nhưng thu nhập từ việc đi làm thêm là
thu nhập không chịu thuế, nên các cháu bé đó không phải đóng thuế.
Các cháu học đến
23 tuổi mới tốt nghiệp đại học. Tốt nghiệp xong thì đi làm toàn thời gian có
thu nhập từ việc làm toàn thời gian mới bắt đầu đóng thuế.
Các cụ già 65 tuổi
về hưu, không có thu nhập chịu thuế nữa.
Sau khi về hưu,
các cụ đi làm thêm, như lái xe taxi chẳng hạn, thì lúc đó thu nhập đó không phải
chịu thuế.
Các cụ trên 65 tuổi
không nộp thuế. Các cháu dưới 23 tuổi không nộp thuế. Nhưng là công dân Nhật họ
vẫn có quyền bầu cử. Ai dám nói “Mấy người không đóng thuế thì không được “vote”.
Việc NỘP THUẾ là
theo luật THUẾ. Việc bầu cử là quyền CÔNG DÂN.
Mang tiếng ở Nhật
lâu, học rộng biết nhiều mà nói ra sao thấy bốc mùi dốt nát.
E) Chuyện người nước
ngoài: Rất nhiều người VN nói chính quyền Takaichi Sanae ban hành một số chính sách
bài người nước ngoài. Và vì vậy họ đấu tố chính quyền Takaichi Sanae rất hăng và
mong cho chính quyền Takaichi Sanae thất cử.
E1) Thực chất đảng
LDP không hề bài ngoại. Toàn bộ các nghị định hoặc chỉ thị dưới luật và rồi thúc
đẩy thành luật để đưa người nước ngoài vào Nhật lao động đều được thực hiện trong
thời gian hơn 20 năm gần đây, là thời gian mà đảng LDP của nữ Takaichi Sanae nắm
quyền nội các liên tục.
E2) Chính quyền Takaichi
Sanae chỉ thực hiện nghiêm túc các luật đã có sẵn mà nó hơi bị lơi lỏng trong thời
gian vài năm trước. Vì sự lơi lỏng đó mà dường như tội phạm tăng cao.
E3) Có một chính sách
sửa đổi sau khi nữ Takaichi Sanae lên nắm quyền liên quan đến doanh nghiệp do chủ
người nước ngoài, đó là xiết chặt việc cấp visa doanh nhân và gia hạn visa doanh
nhân. Trong đó có một điều kiện là vốn điều lệ của doanh nghiệp bị tăng cao lên
khoảng 6 lần so với hiện tại. Điều này khiến cho rất nhiều doanh nhân người Việt
ở Nhật đang thấy rất khó chịu. Tuy nhiên, với hệ thống của Nhật, thì cho dù nữ Takaichi
Sanae có làm hay không thì việc sửa đổi này cũng vẫn sẽ xảy ra.
F) Bầu cử bằng cảm
xúc: Có một số người Việt tỏ ý chê bai rằng bầu cử ngày 8/Feb/2026 ở Nhật là cử
tri đi bầu vì cảm xúc.
F1) Okie, ở VN có
bầu cử đi đã rồi hẵng đi chê bai.
F2) Tỉ lệ cử tri đi
bầu là 56%, chỉ tăng hơn kì bầu cử năm 2024 là chưa đến 3%. Nếu thực sự bầu cử do
cảm xúc thì có lẽ đã phải tăng rất mạnh. Thế nhưng vẫn chỉ là hơn phân nửa số cử
tri THỰC SỰ QUAN TÂM đến vận mệnh đất nước nên mới đi bỏ phiếu. Còn lại hơn 40%
vẫn cứ kệ, và vô cảm.
F3) Cứ cho là lần
này dân Nhật bầu cử bằng cảm xúc. Nghĩa là cảm xúc có thể đúng có thể sai. Tuy
nhiên cho dù sai thì tới cừ bầu cử tiếp theo họ sẽ sửa sai được.
Còn ở những nơi
được lãnh đạo bằng Thánh Nhân thì có sai đúng gì cũng éo bao giờ cần phải sửa 🤣 Nên dân gian
có câu “sai đâu sửa đó, sửa đâu sai đó”.
F4) Nếu là CẢM XÚC,
thì lần này cảm xúc ở đây là gì?
Cá nhân tôi cho rằng:
Lòng Tự Tôn Dân Tộc của Nhật đã bị xúc phạm.
Ngày 7/11/2025:
Trong phiên họp Ủy ban Ngân sách Hạ viện, nữ Takaichi Sanae trả lời chất vấn của
nghị sĩ Okada Katsuya (đảng CDP đảng dân chủ lập hiến): "Nếu Trung Quốc sử
dụng tàu chiến và vũ lực (như phong tỏa biển), thì đây chắc chắn có thể trở
thành tình huống đe dọa sự tồn vong (存立危機事態 - sonritsu kiki jitai) của Nhật Bản."
→ Ý ám
chỉ Nhật có thể áp dụng quyền tự vệ tập thể (集団的自衛権), dựa trên luật an ninh 2015.
Đây là lần đầu tiên
một Thủ Tướng Nhật phát biểu công khai rõ ràng như vậy.
Ngay lập tức một Tổng
Lãnh Sự của Trung Cộng ở Osaka tên là Tiết薛剣Kiếm, tên nhóc này đăng lên trương mục X của nó một
câu ám chỉ rằng “Cái cổ bẩn thỉu của mụ này cần phải bị cắt xuống”.
Đương nhiên đây không
phải là lời chính thức của chánh quyền Tập. Nhưng thử nghĩ coi, Tiết Kiếm là Tổng
Lãnh Sự ở Osaka, một cơ quan đại diện cho chánh quyền Trung Cộng ở một nơi đông
dân thứ nhì Nhật Bản. Liệu tên nhóc đó có dám mở miệng nếu không có đèn xanh của
quan thày chúng nó.
Giữa ban ngày ban
mặt nó muốn cắt cổ nữ Thủ Tướng.
Takaichi Sanae không
phải là một cá nhân nữ Takaichi Sanae. Người đó là một thủ tướng được bầu. Nguyên
thủ quốc gia đại diện cho cả một nước Nhật. Đe dọa cắt cổ người ấy vậy có phải là
xem thường dân tộc Nhật Bản quá hay không?
Và cái cảm xúc bị
xem thường đã dồn lên lá phiếu chăng?
G) Chiến thắng của
đảng LDP nói chung và của cá nhân Takaichi Sanae như thế nào?
Trong vòng 20 năm
trở lại đây, tại Hạ Viện, đảng LDP thường chiếm đa số tối thiểu (hơn 50% số ghế).
Tuy nhiên, tại Thượng Viện, đảng LDP chưa lần nào quá bán.
Do đó, LDP luôn phải
liên minh với đảng Công Minh (公明党
Kōmeitō) để giữ thế đa số quá bán ở thượng viện và đa số tuyệt đối (2/3) ở Hạ Viện.
Ngày 7/SEP/2025 Ishiba
Shigeru từ chức chủ tịch đảng LDP. Nữ Takaichi Sanae tranh cử chức chủ tịch đảng
LDP cùng 4 ứng viên khác. Và nữ đã thắng chức chủ tịch đảng ngày 4/OCT/2025.
Khi này, đảng LDP
tại Hạ Viện chỉ có 191 ghế, đảng Công Minh (公明党 Kōmeitō) có 24 ghế, tổng số ghế của liên minh này
chỉ có 215. Thiếu 18 ghế mới đủ túc số quá bán 233. Thủ tướng của một liên minh
không đủ quá bán thì coi như bị trói tay. Tại Thượng Viện, LDP cũng chỉ có 101,
đảng Công Minh (公明党
Kōmeitō) có 20 ghế, tổng số ghế của liên minh này chỉ có 121 cũng không có quá bán
(125). Vậy thì làm ăn gì với số ghế ở lưỡng viện không đủ quá bán.
Khi Takaichi Sanae
thắng cử chức chủ tịch đảng LDP, thì đảng Công Minh (公明党 Kōmeitō) hủy bỏ liên minh, vì họ ủng hộ Koizumi Shinjiro
đối thủ cạnh tranh chức chủ tịch đảng của Takaichi Sanae.
Để thành lập chánh
phủ, Takaichi Sanae (LDP 198 ghế) phải lập liên minh mới với đảng Japan
Innovation Party (Ishin) 34 ghế, để có 232 ghế, vẫn thiếu 1 ghế thì đạt đa số tối
thiểu 50%. Tuy nhiên, quốc hội lưỡng viện vẫn bầu Takaichi Sanae làm thủ tướng.
Nữ thủ tướng đầu tiên của Nhật.
Takaichi Sanae nhậm
chức thủ tướng từ ngày 21/OCT/2025.
Sau 93 ngày làm thủ
tướng, Takaichi Sanae giải tán Hạ Viện. Đánh một canh bạc, Takaichi Sanae tuyên
bố nếu đảng LDP không thắng cử Takaichi Sanae sẽ từ chức thủ tướng ngay lập tức.
Takaichi Sanae đặt ra chỉ tiêu LDP đạt đa số tối thiểu 233 ghế. Từ 198 ghế lên 233,
LDP cần tăng thêm 35 ghế.
Ngày 8/FEB/2026, tổng
tuyển cử sớm, đảng LDP đã thắng một cách ngoạn mục. Thắng được 316 ghế hạ viện.
Đảng Japan Innovation Party (Ishin) thắng 36 ghế. Riêng đảng LDP 316 ghế đã vượt
đa số tuyệt đối tức là chiếm 68% số ghế Hạ Viện. Đây là lần đầu tiên từ sau chiến
tranh (1945), một đảng đơn độc chiếm được 2/3 Hạ Viện.
Theo Hiến Pháp, khi
có 2/3 dân biểu Hạ Viện biểu quyết thông qua một dự luật, thì Thượng Viện phản đối
vô hiệu.
Liên minh cầm quyền
của Takaichi Sanae (LDP + Japan Innovation Party (Ishin) chiếm 352 ghế Hạ Viện.
Thượng Viện đến 2028
mới có bầu cử. Liên minh cầm quyền của Takaichi Sanae tại Thượng Viện chỉ có 120
ghế dưới quá bán (125). Muốn thay đổi tại Thượng Viện, thì trong 2 năm tới Takaichi
Sanae phải làm tốt vấn đề kinh tế và kiểm soát lạm phát giá tiêu dùng.
Phát biểu sau chiến
thắng, Takaichi Sanae nói “dân càng tin tưởng vào chúng ta, thì nhiệm vụ của chúng
ta càng nặng nề hơn”.
Chương trình nghị
sự của Takaichi Sanae sắp tới có một việc quan trọng. Đó là sửa Hiến Pháp để chính
thức hóa Bộ Quốc Phòng, để hợp lý hóa việc phân đổ ngân sách cho Bộ Quốc Phòng.
Tuy nhiên, việc này rất khó.
Bước 1: Dự thảo sửa
hiến pháp trình Hạ Viện.
Bước 2: Hạ Viện thông
qua với đa số tối đa tức là 2/3 nghị sĩ Hạ Viện đồng ý.
Bước 3: Thượng Viện
thông qua với đa số tối đa tức là 2/3 nghị sĩ Thượng Viện đồng ý. Ải này khó lắm,
vì liên minh của Takaichi Sanae tại Thượng Viện chỉ chưa tới quá bán (125).
Bước 4: Nếu qua được
bước 3 thì đưa ra cho dân bầu cử phổ thông đầu phiếu. Nếu đạt hơn 50% cử tri ủng
hộ là được.
Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026
Cơ chế hoạt động của Cục Dự Trữ Liên Bang FED
Cục Dự trữ Liên bang FED được thành lập năm 1913 theo Đạo luật Dự trữ Liên bang.
Số lượng Governor (Thống đốc) của FED
Hội đồng Thống đốc (Board of Governors) của FED gồm 7 thành viên (governors).
- Các thống đốc này do Tổng thống đề cử và Thượng viện phê chuẩn.
- Nhiệm kỳ đầy đủ là 14 năm, được sắp xếp staggered (lệch nhau) để đảm bảo tính liên tục và độc lập chính trị (một nhiệm kỳ bắt đầu mỗi 2 năm). Cứ 2 năm sẽ có một Thống đốc nghỉ hưu, và Tổng thống sẽ đề cử một Thống đốc mới. Nếu được phê chuẩn, thống đốc đó sẽ làm việc 14 năm.
- Chủ tịch (Chair), Phó Chủ tịch (Vice Chair), và Phó Chủ tịch phụ trách Giám sát (Vice Chair for Supervision) được chọn từ trong số 7 thống đốc này, với nhiệm kỳ 4 năm (có thể tái bổ nhiệm).
Cơ chế hoạt động của FED
FED có cấu trúc lai cơ chế (hybrid) độc đáo, kết hợp yếu tố công (chính phủ) và tư (ngân hàng khu vực), nhằm đảm bảo tính độc lập với chính trị ngắn hạn nhưng vẫn chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
Cấu trúc chính gồm 3 thành phần cốt lõi:
- Hội đồng Thống đốc (Board of Governors) — Washington D.C.
- Cơ quan quản lý trung ương, là cơ quan chính phủ liên bang.
- Giám sát toàn bộ hệ thống, ban hành quy định, giám sát ngân hàng, và tham gia quyết định chính sách.
- Không nhận ngân sách từ Quốc hội, tự chủ tài chính (lợi nhuận chuyển về Kho bạc sau khi trừ chi phí).
- Mười hai Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực (Federal Reserve Banks)
- Phân bố theo 12 quận địa lý (ví dụ: New York, Chicago, San Francisco...).
- Hoạt động như "cánh tay thực thi" của FED: thu thập thông tin kinh tế địa phương, giám sát ngân hàng thành viên, cung cấp dịch vụ thanh toán, cho vay khẩn cấp...
- Mỗi ngân hàng có hội đồng quản trị riêng (kết hợp công và tư), nhưng chịu sự giám sát của Hội đồng Thống đốc.
- Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC — Federal Open Market Committee)
- Cơ quan quan trọng nhất quyết định chính sách tiền tệ.
- Thành phần: 7 Thống đốc + Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ New York (luôn có quyền biểu quyết) + 4 Chủ tịch ngân hàng khu vực khác (luân phiên hàng năm). Tổng cộng 12 thành viên có quyền bỏ phiếu.
- Họp khoảng 8 lần/ năm để quyết định lãi suất cơ bản (federal funds rate), mua/ bán trái phiếu (open market operations), điều chỉnh cung tiền → ảnh hưởng đến lạm phát, việc làm, tăng trưởng kinh tế.
Các công cụ và chức năng chính của FED
FED thực hiện 5 chức năng chính:
- Thực thi chính sách tiền tệ (qua FOMC) để đạt tối đa việc làm và ổn định giá cả (mục tiêu lạm phát khoảng 2%).
- Giám sát và quy định ngân hàng để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.
- Duy trì ổn định tài chính, giảm rủi ro hệ thống.
- Cung cấp dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ (như Fedwire, FedNow).
- Bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển cộng đồng.
FED được thiết kế độc lập (không cần phê duyệt của Tổng thống hay Quốc hội cho quyết định tiền tệ), nhưng phải báo cáo trước Quốc hội và chịu trách nhiệm công khai. Cấu trúc phân quyền này giúp cân bằng lợi ích quốc gia, khu vực, công và tư.









