Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Cơ chế hoạt động của Cục Dự Trữ Liên Bang FED

Cục Dự trữ Liên bang FED được thành lập năm 1913 theo Đạo luật Dự trữ Liên bang.

Số lượng Governor (Thống đốc) của FED

Hội đồng Thống đốc (Board of Governors) của FED gồm 7 thành viên (governors).

  • Các thống đốc này do Tổng thống đề cử và Thượng viện phê chuẩn.
  • Nhiệm kỳ đầy đủ là 14 năm, được sắp xếp staggered (lệch nhau) để đảm bảo tính liên tục và độc lập chính trị (một nhiệm kỳ bắt đầu mỗi 2 năm). Cứ 2 năm sẽ có một Thống đốc nghỉ hưu, và Tổng thống sẽ đề cử một Thống đốc mới. Nếu được phê chuẩn, thống đốc đó sẽ làm việc 14 năm.
  • Chủ tịch (Chair), Phó Chủ tịch (Vice Chair), và Phó Chủ tịch phụ trách Giám sát (Vice Chair for Supervision) được chọn từ trong số 7 thống đốc này, với nhiệm kỳ 4 năm (có thể tái bổ nhiệm).

Cơ chế hoạt động của FED

FED có cấu trúc lai cơ chế (hybrid) độc đáo, kết hợp yếu tố công (chính phủ) và tư (ngân hàng khu vực), nhằm đảm bảo tính độc lập với chính trị ngắn hạn nhưng vẫn chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

Cấu trúc chính gồm 3 thành phần cốt lõi:

  1. Hội đồng Thống đốc (Board of Governors) — Washington D.C.
    • Cơ quan quản lý trung ương, là cơ quan chính phủ liên bang.
    • Giám sát toàn bộ hệ thống, ban hành quy định, giám sát ngân hàng, và tham gia quyết định chính sách.
    • Không nhận ngân sách từ Quốc hội, tự chủ tài chính (lợi nhuận chuyển về Kho bạc sau khi trừ chi phí).
  2. Mười hai Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực (Federal Reserve Banks)
    • Phân bố theo 12 quận địa lý (ví dụ: New York, Chicago, San Francisco...).
    • Hoạt động như "cánh tay thực thi" của FED: thu thập thông tin kinh tế địa phương, giám sát ngân hàng thành viên, cung cấp dịch vụ thanh toán, cho vay khẩn cấp...
    • Mỗi ngân hàng có hội đồng quản trị riêng (kết hợp công và tư), nhưng chịu sự giám sát của Hội đồng Thống đốc.
  3. Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC — Federal Open Market Committee)
    • Cơ quan quan trọng nhất quyết định chính sách tiền tệ.
    • Thành phần: 7 Thống đốc + Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ New York (luôn có quyền biểu quyết) + 4 Chủ tịch ngân hàng khu vực khác (luân phiên hàng năm). Tổng cộng 12 thành viên có quyền bỏ phiếu.
    • Họp khoảng 8 lần/ năm để quyết định lãi suất cơ bản (federal funds rate), mua/ bán trái phiếu (open market operations), điều chỉnh cung tiền → ảnh hưởng đến lạm phát, việc làm, tăng trưởng kinh tế.

Các công cụ và chức năng chính của FED

FED thực hiện 5 chức năng chính:

  • Thực thi chính sách tiền tệ (qua FOMC) để đạt tối đa việc làmổn định giá cả (mục tiêu lạm phát khoảng 2%).
  • Giám sát và quy định ngân hàng để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.
  • Duy trì ổn định tài chính, giảm rủi ro hệ thống.
  • Cung cấp dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ (như Fedwire, FedNow).
  • Bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển cộng đồng.

FED được thiết kế độc lập (không cần phê duyệt của Tổng thống hay Quốc hội cho quyết định tiền tệ), nhưng phải báo cáo trước Quốc hội và chịu trách nhiệm công khai. Cấu trúc phân quyền này giúp cân bằng lợi ích quốc gia, khu vực, công và tư.


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Tôi rất sợ Chánh Trụy

Hơn nửa đời người.

Tôi nhận thấy là đa số mọi người đều cố gắng né tránh chuyện Chánh Trụy. Chánh Trụy là cái gì đó mà dường như ai cũng sợ nó. Cách tốt nhất là chẳng có quan điểm gì cả, cứ đẩng bẩu sao thì nghe vậy, cho dù đẩng có móc túi mình thì cũng lặng im ngầm bồ hòn bẩu là ngọt.

Nhưng thực tế, chúng ta có né tránh kiểu gì cũng không thoát được. Cái thằng Chánh Trụy ấy nó cứ hàng ngày hãm hiếp chúng ta một cách không khoan nhượng. Mà rất hay là nó hãm hiếp không hề để lại dấu vết.

Chỉ có ai chịu khó suy nghĩ về nó thì mới dám nhận ra và khẳng định "Dù sao trái đất vẫn quay".

Một vài điểm về bất đồng chánh kiến:

1) Quan điểm về Nhà Nước:

Tả khuynh cấp tiến: Nhà Nước phải bao đồng mọi chuyện, quản lý mọi chuyện.

Hữu khuynh bảo thủ: Nhà Nước phải thật nhỏ, người nhà nước ít thôi, để cho dân tự do làm ăn nhảy múa.

2) Cảnh sát:

Tả khuynh cấp tiến: Là công cụ để áp đặt chính sách.

Hữu khuynh bảo thủ: Là lực lượng bảo vệ cuộc sống bình an của mọi người.




Sơ lược về Trần Huỳnh Duy Thức

Tiểu sử và sự nghiệp ban đầu

  • Sinh ngày 29 tháng 11 năm 1966 tại Sài Gòn, trong một gia đình có tám anh chị em.
  • Tốt nghiệp khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Bách khoa Sài Gòn năm 1990.
  • Đầu năm 1993, ông mở cửa hàng vi tính nhỏ, tự lắp ráp máy tính cá nhân. Chỉ vài tháng sau, cửa hàng đã phát triển mạnh.
  • Năm 1994, thương hiệu máy tính của ông thống lĩnh thị trường PC gia đình tại Sài Gòn.
  • Ông là người tiên phong đưa internet tốc độ cao và công nghệ gọi điện thoại giá rẻ (VoIP) vào Việt Nam. Thành lập công ty EIS (sau là OCI - One Connection Internet), mở chi nhánh tại Singapore và Mỹ. Công ty từng được đánh giá cao cả trong nước lẫn quốc tế về lĩnh vực viễn thông - di động.

Hoạt động chính trị và bất đồng chính kiến

  • Năm 2005, cùng Lê Thăng Long và một số người khác, ông lập Nhóm nghiên cứu Chấn để nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam.
  • Năm 2008, ông lập hai blog dưới bút danh Trần Đông Chấn (Change We Need): "Change We Need" và "Trần Đông Chấn", đăng bài phân tích kinh tế, chính trị, xã hội, kêu gọi thượng tôn pháp luật, cải cách dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, và phản đối quyền lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Ông ủng hộ Con Đường Việt Nam (một phong trào dân chủ), kêu gọi dân chủ hóa, bảo vệ nhân quyền, và cải cách kinh tế - xã hội.

Bị bắt và xét xử

  • Ngày 24 tháng 5 năm 2009, ông bị bắt với cáo buộc ban đầu là trộm cước viễn thông.
  • Sau đó, cáo buộc chuyển sang "tuyên truyền chống nhà nước" (Điều 88) rồi thành "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" (Điều 79 Bộ luật Hình sự 1999).
  • Ngày 20 tháng 1 năm 2010, Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh xét xử cùng các nhà hoạt động khác: luật sư Lê Công Định, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung.
  • Kết quả: Ông bị tuyên 16 năm tù giam + 5 năm quản chế (án nặng nhất trong nhóm). Các người khác nhận án từ 5–7 năm.

Thời gian trong tù

  • Ông bị giam tại nhiều trại: Xuân Lộc (Đồng Nai), Xuyên Mộc, rồi Trại giam số 6 (Nghệ An/ Thanh Chương).
  • Ông tuyệt thực nhiều lần (từ 2016, 2020, và các lần khác) để phản đối điều kiện giam giữ hà khắc, đòi xét xử lại theo Bộ luật Hình sự 2015, đòi quyền lợi cho tù nhân chính trị, và từ chối nhận tội để đổi lấy đặc xá.
  • Ông kiên quyết từ chối đi định cư Mỹ (dù có đề nghị), khẳng định sẽ ở lại Việt Nam đấu tranh bên cạnh người dân.
  • Nhiều tổ chức quốc tế (Amnesty International, Front Line Defenders, Human Rights Watch, Liên Hợp Quốc) công nhận ông là tù nhân lương tâm, kêu gọi thả tự do. Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện LHQ năm 2012 kết luận việc giam giữ ông là tùy tiện.

Được trả tự do

  • Ngày 20 tháng 9 năm 2024, ông được trả tự do trước thời hạn 8 tháng (so với hạn chót tháng 5/2025).
  • Chính quyền thông báo là đặc xá theo quyết định của Chủ tịch nước, nhưng ông và gia đình khẳng định không xin đặc xá. Ông đòi tòa xử lại và yêu cầu tòa tuyên ông vô tội. Ông bị cưỡng chế ra khỏi trại giam một cách chớp nhoáng. 
  • Việc cưỡng chế ông ra khỏi trại giam là Thời điểm trùng với chuyến đi Mỹ của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Tô Lâm (tham dự Liên Hợp Quốc và gặp Tổng thống Mỹ), được nhiều nguồn quốc tế và trong nước xem là động thái "xoa dịu" chỉ trích nhân quyền.
  • Ngay sau khi ra tù, ông tiếp tục bày tỏ quan điểm trên mạng xã hội: "Tôi không lật đổ chính quyền gì cả, tôi chỉ chống cường quyền và tôi sẽ còn chống cho đến khi nào còn thấy nó."

Hiện tại (đầu năm 2026)

Ông đã về sum họp gia đình (có vợ và hai con gái), hoạt động tích cực trên Facebook cá nhân và các trang liên quan. Ông công khai chia sẻ quan điểm, viết thư từ tù (sau này công bố), và tiếp tục đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền. Một số bài viết gần đây của ông đề cập đến AI, triết lý sống, và phê phán hệ thống chính trị.

Câu chuyện của ông được xem là biểu tượng của sự kiên định, hy sinh cho lý tưởng dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam. Nhiều người ca ngợi ông là nhân cách cao quý, doanh nhân yêu nước bị chế độ vùi dập, trong khi một số nguồn chính thống Việt Nam mô tả hoạt động của ông là chống phá nhà nước.

Ông vẫn là một trong những tiếng nói bất đồng chính kiến nổi bật nhất sau khi ra tù.


Note: Những bài phỏng vấn do Dương Quốc Chính thực hiện với các nhân vật lịch sử rất đáng để xem.






Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Máy tính nhiều rác quá cơ

Không biết máy tính của mọi người thế nào. Mà cái máy của tôi - do công ty trang bị cho nó làm việc nhiều khi khiến tôi rất khó chịu. Chẳng hạn nó nhiều khi cứ bị "nhảy cầu giao", mình chỉ vừa mới bấm vào một cái gì đó rất đơn giản thôi, ấy vậy mà nó cũng đứng lại không làm gì luôn. Hoặc là khi nó cứ liên tục "out" ra khỏi một cái "app" do một đối tác của công ty cung cấp cho mình làm việc.

Có lẽ là tại Rác!

Hôm nay tôi mới dùng cái Disk Cleanup để dọn dẹp ổ đĩa C: đĩa hệ thống.

Trên "task bar" có cái ô Search.



Gõ vào đó chữ Disk là nó đã nhảy ra gợi ý Disk Cleanup luôn rồi. Đồng thời nó cũng hiện luôn gợi ý đến thằng bạn của Cleanup là Defragment and Optimize Drives - Cái này dùng đến sau khi đã dọn hết rác.



Khởi bấm vào để động Disk Cleanup. Rồi chọn ổ đĩa hệ thống là C: rồi bấm OK.



Đợi nó chạy rồi hiện ra hộp thoại như dưới đây.



Lúc này "tick" vào tất cả các mục thì sẽ thấy tổng số dung lượng rác.

Thì thấy rằng là có khoảng 8 GB rác phải dọn mà chủ yếu năm ở Temporary.

Rồi bấm OK. Nó sẽ hỏi lại có chắc là xóa hay không.



Bấm vào Delete files.

Vì dung lượng rác quá lớn, nên đợi cũng khá lâu.

Sau đó lại chạy lại Disk Cleanup để kiểm tra xem nó xóa được bao nhiêu.

Thế nhưng khi tôi thực hiện lệnh Clean thì cái Disk Cleanup lại không thể xóa Temporary. Vì tôi dùng chính Disk Cleanup chạy lại thì thấy Temporary vẫn còn như cũ 8GB.

Lúc này tôi đành nhờ đến một trong số các cháu Ây-Ai. Đặt câu hỏi: "Disk cleanup không xóa được temporary files thì phải làm sao?"

Lập tức các cháu hướng dẫn chi tiết.

1) Nhấn tổ hợp phím Windows + R, tức là nhấn đồng thời cái phím có hình cửa sổ và phím R.



2) Rồi gõ lệnh %temp%

Nó sẽ nhảy ra cái "folder" Temp của người dùng (user) - trong trường hợp của tôi là HANAMN~1>Temp như trong hình.



4) Bấm tổ hợp phím Control + A để chọn tất cả các "files" trong "folder" Temp này.

5) Rồi bấm phím "Delete". Vì tôi có đến gần 8GB nên nó xóa sẽ rất lâu. Tôi phải đi pha cà-phê, ngồi đọc báo, kệ cho nó làm.

Chú ý: Đừng cắt ngang công việc của nó.



Khi nó xóa gần xong thì sẽ bị ngừng lại vì có những "files" và "folder" đang sử dụng (in use) nên nó không xóa được. Nó sẽ hiện hộp thoại có chữ "in use". Khi đó thì bấm Skip là được. Có thể "tick" vào "Do thí for all current items" rồi mới bấm Skip.





6) Tìm vào C:/Windows/Temp - Khi "double click" vào đây, thì sẽ hiện ra thông báo yêu cầu phải là "Admin" (Quản trị). Thông thường máy tính mình dùng một mình, thì không có nhiều "User" nên chỉ cần bấm vào nút Continue là okie.




7) Thực hiện lại bước 4) và 5) ở trên.

Sau khi thực hiện xóa thủ công theo các bước trên. Thì lưu ý rằng các files vừa xóa, theo thông thường là mới chỉ di chuyển sang Recycle Bin (Thùng Rác) thôi.



Bấm chuột phải vào Thùng Rác. Rồi chọn lệnh Empty Recycle Bin.



Lúc này nó lại làm việc rất lâu với dung lượng quá lớn. Lại đi uống cà-phê đọc báo tiếp.



Sau khi Recycle Bin đã dọn sạch, thì thực hiện lại thao tác Disk Cleanup.

Nếu thực hiện xóa tốt, thì chỉ còn lại vài MB thôi như dưới đây.



Lúc này mới thực hiện lệnh Defragment and Optimize Drives.



Chọn ổ địa C: rồi bấm vào Optimize rồi đợi.

Thời xưa việc Defragment này làm rất lâu. Nhưng thời nay do nó tự động làm thường xuyên rồi, nên việc làm bằng lệnh của mình cũng nhanh hơn.

Nếu mỗi ngày Cleanup và Optimize một lần thì chắc đỡ phải đọc báo uống cà-phê.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Chủ đề XKLĐ Nhật

Trước tiên chúng ta điểm qua một số văn bản pháp luật để xem người Nhật có hào hứng với việc lao động nhập cư hay không.

1 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn.

Năm 1945, Nhật thua trận Thế Chiến II, Mỹ vào cai quản Nhật.

Đến năm 1951, nội các lúc bấy giờ ban hành một sắc lệnh hành pháp có tên là 出入国管理令 (Xuất Nhập Quốc Quản Lý Lệnh - tức là sắc lệnh về quản lý xuất nhập cảnh). Tới 1952, sau khi Mỹ trả độc lập cho Nhật, thì Quốc Hội phê chuẩn sắc lệnh đó thành LUẬT. Đến năm 1982, Nhật Bản tham gia công ước tị nạn, nên bổ sung thêm phần 難民認定 (Nạn Dân Nhận Định) vào luật có sẵn rồi đổi tên bộ luật thành 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn.

Trong 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn, người ta qui định rất nhiều loại visa (chứng nhận cho phép vào Nhật), nhưng không có mục visa nào cho lao động phổ thông. Nghĩa là bạn có thể đến Nhật du lịch, nhưng không được đến để lao động phổ thông.

Trong nhiều năm giới chủ tư bản đã cố gắng vận động bổ sung thêm "visa lao động phổ thông" - nhưng đều bị đa số dân biểu và thượng sĩ từ chối. Đây là tính bảo thủ của Nhật. Nếu mở cửa trực tiếp cho lao động phổ thông, sẽ bị coi là thay đổi chính sách nhập cư lớn, gây tranh cãi chính trị từ các nhóm bảo thủ, công đoàn và dư luận lo ngại về "di dân ồ ạt", tội phạm, gánh nặng phúc lợi xã hội. Đa số dân Nhật không muốn điều này. Họ không đần độn như dân Mỹ hoặc Âu khi những nơi đó mở toang biên giới thả nhung nhúc tội phạm vào trong nước.

2 外国人の技能実習の適正な実施及び技能実習生の保護に関する法律 Act on Proper Technical Intern Training and Protection of Technical Intern Trainees Luật Thực Tập Sinh.

Năm 1993, Bộ trưởng Tư Pháp ban hành một chỉ thị về 外国人技能実習制度 TITP (Technical Intern Training Program) Chương Trình Thực Tập Sinh, đánh dấu điểm khởi động cho phép cấp visa thực tập sinh. Tuy nhiên, suốt gần 20 năm từ 1993, người nước ngoài vào Nhật theo diện này khá là ít.

Năm 2010, mới có sửa đổi lớn trong 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn, lần đầu tiên tạo thêm ra visa "技能実習 "Technical Intern Training" Kỹ Năng Thực Tập" riêng biệt.

Năm 2016 Quốc hội mới chính thức ban hành 外国人の技能実習の適正な実施及び技能実習生の保護に関する法律 Act on Proper Technical Intern Training and Protection of Technical Intern Trainees Luật Thực Tập Sinh thay thế cho chỉ thị 1993. Tạo ra sự bùng nổ dân số dưới visa "技能実習 "Technical Intern Training" Kỹ Năng Thực Tập".

Năm 2024, Quốc Hội Nhật đã sử đổi một phần 出入国管理及び難民認定法 Immigration Control and Refugee Recognition Act Luật Quản Lý Xuất Nhập Cảnh và Công Nhận Tị Nạn và sửa đổi luật 2016 thành 外国人の育成就労の適正な実施及び育成就労外国人の保護に関する法律" Act on Proper Implementation of Employment for Skill Development and Protection of Foreign Trainees Luật Tuyển Dụng Thực Tập Sinh Người Nước Ngoài, và Bảo Vệ và Phát Triển Kỹ Năng cho Thực Tập Sinh Người Nước Ngoài. Sắp tới năm 2027, Luật sẽ đi vào hiệu lực.

Qua 41 năm (1952~1993) Nhật Bản cấm lao động phổ thông nước ngoài.

Qua 34 năm (1993~2027) Nhật Bản nhập khẩu lao động nước ngoài dưới hình thức trá hình "thực tập sinh".

Lần đầu tiên Nhật Bản đưa từ 就労 Tựu Lao Employment (thuê mướn, tuyển dụng) vào một văn bản Luật do Quốc Hội thông qua. Đủ biết nó khó khăn đến mức nào. Họ không muốn người nước ngoài tràn ngập để biến Nhật Bản thành một cái thứ "dơi không ra dơi, chuột không ra chuột". Nhật Bản vẫn muốn duy trì là một nơi Lịch Thiệp khác hẳn phần còn lại của thế giới.

*****

Một người bạn gửi cho tôi bài viết dưới đây, không đề tên người viết, tôi cũng không rõ là của ai, bài viết có gì đó đáng để suy nghĩ:

[trích]

Nhật Bản không phải thiên đường. Việt Nam không phải địa ngục.

Nhưng xuất khẩu lao động thì đa số rơi vào 1 trong 3 kiểu dưới đây.

Nếu quay lại thời điểm trước khi đi Nhật, bạn sẽ chọn khác không?

1) Cày rồi kẹt vòng lặp vô tận (đa số): Đi Nhật đúng hướng, chấp nhận tầm thường.

Sang Nhật, lao động phổ thông. Làm nhiều, tiết kiệm cực đoan.

Mục tiêu: tiền, không phải kỹ năng, không quan tâm ngôn ngữ, văn hoá, chỉ cần đủ dùng, đủ làm việc.

Về Việt Nam: xả stress, chữa lành. Xài tiền nhanh (nhà, xe, cưới, sĩ). Thu nhập trong nước thấp hơn kỳ vọng.

Kết cục: hết tiền → quay lại Nhật. Lặp lại chuỗi: cày – xài – hết – cày.

2) Cày rồi thoát khỏi vòng lặp (thiểu số): 

– Đi Nhật để nâng cấp bản thân, trước khi nâng cấp tài khoản ngân hàng.

Khác biệt nằm ở trong lúc cày, họ làm thêm 3 việc:

– Học tiếng Nhật tới mức dùng được hoặc khá đến giỏi, không chỉ để sinh tồn.

– Học từ chính công việc mình đang làm, vừa làm vừa hiểu nghề, hiểu cách làm việc và văn hoá.

– Giữ tiền, học cách dùng tiền thông minh. Chấp nhận vừa học vừa làm. Bỏ tiền cho các khoá học, sách vở, kỹ năng mềm. Mấy siêu nhân còn học đại học trực tuyến 👍

Khi về Việt Nam: có vốn + có kỹ năng. Thời gian ở Nhật chỉ là bệ phóng. Việt Nam mới là nơi dùng những thứ đó.

3) Sai ngay từ đầu (đau khổ nhất):

Lý do đi Nhật đã sai từ gốc, vì tư duy ngắn hạn ngay từ đầu. Sang Nhật với tâm thế: đi kiếm tiền nhanh.

Không xác định học gì, lên trình độ gì.

Chọn ngành chỉ vì dễ đi, ít cần ngoại ngữ xác định lương bèo bọt còn có thể là ngành độc hại hoá chất hay nguy hiểm.

5–7 năm trôi qua: tiền có, nhưng bản thân không khác gì ngày xưa. Về Việt Nam thì lương thấp, không muốn về. Ở Nhật thì chán, vì chính mình ko thấy phát triển lên. Không biết bước tiếp kiểu gì.

Nhật không giữ ai lại và Việt Nam cũng không đuổi ai đi. Chỉ có ai đó tự mắc kẹt trong vòng mình chọn thôi.

Xuất khẩu lao động tự nó không sai.

Đó là một lối đi, nhất là khi tuổi trẻ còn mơ hồ.

Chưa biết bắt đầu từ đâu. Nhưng sẽ trở thành sai lầm nếu chỉ đổi sức lấy tiền, mà không đổi trình độ, kỹ năng, hay cả mối quan hệ và văn hoá sống.

À quên còn kiểu thứ 4: Làm việc sinh sống như người Nhật sống lâu sống thọ, sống vui vẻ sống yêu đời, sống bền vững, sống trường tồn sống ra cái visa vĩnh trú, sống ra cái quốc tịch, rồi người Việt Nam nhưng về Việt Nam phải xin visa kiểu này thuộc dạng VIP xin phép ko bàn đến.

Bài viết đậm chất "self-help" này được viết lúc tỷ giá yên 166, rất thích hợp đi du lịch Nhật Bản.

[/trích]  



Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Giảm thiểu "cái con củ cải gì cũng dính đến Tàu Khựa"

Tiếp theo cái thông tin Sữa - Chuỗi cung ứng - Chết bởi tay Trung Cộng mình mới thử hỏi cháu GROK xem làm sao để tránh bị dính đến Tàu Khựa, thì được câu trả lời thế này:

Cách thực tế để giảm thiểu (không phải tránh 100%, nhưng giảm đáng kể) khi mua ở siêu thị Nhật (như Aeon, Ito-Yokado, Life, Seiyu, hoặc Matsumoto Kiyoshi/ Don Quijote, vân vân... ở Nhật Bản)

Ưu tiên sản phẩm nhấn mạnh nguồn nguyên liệu nội địa:

国産 Quốc Sản = sản xuất tại Nhật / nguyên liệu Nhật.

国内産 Quốc Nội Sản = nguyên liệu trong nước.

北海道産 Bắc Hải Đạo Sản, 沖縄産 Okinawa Sản... → nguồn cụ thể từ vùng Nhật.

Ví dụ: Nhiều thực phẩm bổ sung (supplement), mỹ phẩm, thực phẩm dùng 米 (gạo Nhật), 酒 (sake), 昆布 (kombu), 馬油 (horse oil từ Hokkaido), 米ぬか (rice bran) – thường ghi rõ 100% Quốc Sản 国産.

Chọn thương hiệu Nhật cao cấp, ít phụ thuộc Tàu Khựa:

FANCL, DHC (supplement): Nhiều dòng nhấn mạnh nguyên liệu tự nhiên Nhật (như collagen từ cá Nhật), nhưng vẫn check nhãn hàng.

SHIRO, NADESHIKO Rice Series, RICE FORCE, MAIHADA (KOSE): Mỹ phẩm dùng gạo Nhật 100%, sake, hoặc nguyên liệu Hokkaido – ít dính Tàu Khựa.

NaturaGlacé, Hana Organic: Vegan, organic, ưu tiên nguyên liệu Nhật hoặc certified organic (không phải Tàu Khựa).

Imabari towels, đồ gia dụng cao cấp: Nhiều "Made in Japan" thực sự 100% nguyên liệu nội địa.

Tránh hàng giá rẻ bất thường (như supplement dưới 1000 yên/hộp lớn) – dễ OEM từ Tàu Khựa.


Mẹo kiểm tra nhanh tại siêu thị:

Scan barcode bằng app như "Yuka" (có tiếng Nhật), "Open Food Facts", hoặc "Google Lens + Translate" → hiển thị thành phần, nguồn gốc nếu có dữ liệu.

Barcode bắt đầu bằng 49 = Made in Japan (490-499), nhưng chỉ áp dụng sản phẩm hoàn chỉnh, không phải nguyên liệu.

Hỏi nhân viên: Ở Matsumoto Kiyoshi hoặc cửa hàng lớn, dùng máy Translate nói "この商品の原料は中国産ですか?" (Kono shōhin no genryō wa Chūgoku-san desu ka?) – "Nguyên liệu của sản phẩm này có từ Tàu Khựa không?" Nhiều nhân viên thân thiện, sẽ kiểm tra hoặc chỉ sản phẩm Quốc Sản 国産.

Mua ở khu "国内産 Quốc Nội Sản" hoặc "地元産 Địa Nguyên Sản" trong siêu thị (thường có biển riêng cho rau củ, thực phẩm tươi, một số supplement).


Hà Nam Ninh tôi thường mua rau, củ, quả: Mua đồ tươi, mùa nào thức ấy, đừng mua những thứ không đúng mùa.

Khi đi siêu thị ở Nhật mua đồ, tôi thường đọc nhanh thành phần của nó, chỉ cần có một trong các thành phần ghi chữ Trung Cộng (中国) là tôi vất xuống liền.

Ví dụ như trong hình dưới là nhãn mác của sản phẩm mật ong của hãng SAKURA-HONEY, chỗ có gạch chân màu đỏ (gạch chân do tôi vẽ thêm vào), họ viết rõ là "nguyên liệu: mật ong (Trung Cộng, Argentina, New Zealand, Canada,...) túm lại là ngoại nhập.

Một đặc điểm nữa là khi bạn nhìn ở quầy bày sản phẩm, những sản phẩm Quốc Sản 国産 thường có giá đắt gấp đôi những sản phẩm có nguyên liệu ngoại nhập.

Vì vậy, khi mua đồ tôi thường xem sản phẩm đắt trước. Nếu sản phẩm đắt mà có thành phần Tàu Chệt thì khỏi nghía đến những thứ rẻ hơn chi cho mất công.



Sữa - Chuỗi cung ứng - Chết bởi tay Trung Cộng

Hôm trước Hà Nam Ninh tôi có cãi nhau với một cháu Ây-Ai về chủ đề "Hàng rởm rẻ tiền của Trung Cộng làm giảm tỉ lệ sanh con".

Có một tác phẩm "Chết bởi tay Trung Cộng" viết bởi giáo sư Peter Navarro - người đã bị bỏ tù vì "tội" đi theo Trump.

Hôm nay ông bạn Đỗ Đức Thạch chợt gửi cho một bài về thông sữa bị nhiễm độc do có đính vào trong chuỗi cung ứng một thành phần được sản xuất tại Vũ Hán.

[trích]

Đầu năm 2026.

Nestlé (và một số hãng khác như Danone với thương hiệu Aptamil) đã phải thu hồi hàng loạt lô sữa bột trẻ em do phát hiện nguy cơ nhiễm độc tố cereulide (do vi khuẩn Bacillus cereus sản sinh). Độc tố này rất bền nhiệt, không bị phá hủy bởi quá trình đun sôi hay pha sữa thông thường, và có thể gây nôn mửa dữ dội, đau bụng, tiêu chảy ở trẻ nhỏ – đặc biệt nguy hiểm với trẻ sơ sinh vì dễ dẫn đến mất nước nghiêm trọng.

Nguyên nhân gốc rễ được truy vết đến dầu ARA (Arachidonic Acid – axit béo omega-6 bổ sung cho sự phát triển não bộ trẻ), bị nhiễm khuẩn từ nhà cung cấp Cabio Biotech (Wuhan, Trung Cộng) – một trong những nhà sản xuất ARA lớn nhất thế giới (chiếm khoảng 1/3 nguồn cung toàn cầu). Các lô dầu ARA từ nhà máy Vũ Hán của họ bị nhiễm vi khuẩn Bacillus cereus, dẫn đến độc tố cereulide hình thành trước khi đưa vào sản xuất sữa.

- Nestlé bắt đầu thu hồi từ cuối tháng 12/2025, mở rộng đến hơn 60 quốc gia (bao gồm châu Âu, châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Brazil...), ảnh hưởng đến nhiều dòng sản phẩm như NAN, BEBA, Alfamino, SMA, Guigoz... Đây được coi là đợt thu hồi lớn nhất lịch sử của hãng.

- Danone (Aptamil) cũng thu hồi một số lô cụ thể (ví dụ tại Anh: Aptamil First Infant Formula 800g, hạn dùng trước 31/10/2026), và sau đó mở rộng ở một số thị trường khác.

- Các hãng khác như Lactalis cũng bị ảnh hưởng tương tự.

Nestlé và Danone đã ngừng nhập khẩu ARA từ Cabio Biotech, chuyển sang nhà cung cấp khác, và khẳng định chưa ghi nhận ca bệnh xác nhận liên quan trực tiếp (dù có một số báo cáo điều tra về trẻ nhập viện hoặc tử vong nghi ngờ ở Pháp). Cổ phiếu Cabio Biotech giảm mạnh (gần 12% chỉ trong một phiên).

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã yêu cầu dừng lưu thông một số lô Nestlé (như Beba, Alfamino), và Nestlé Việt Nam chủ động thu hồi 17 lô NAN nhập khẩu. Với Aptamil, dù một số lô chưa chính thức lưu hành, vẫn khuyến cáo rà soát hàng xách tay.

[/trích]

Bên lề thông tin về sữa, một loạt các thứ khác để bỏ vào mồm cũng được sản xuất tại Trung Cộng.

Thực phẩm bổ sung "made in" USA hoặc Âu Châu, Úc Châu:

Nguyên liệu thô (raw ingredients) phụ thuộc rất lớn vào Trung Cộng:

Trung Cộng sản xuất hơn 70-90% một số loại vitamin và nguyên liệu phổ biến toàn cầu, ví dụ:

Vitamin C: gần 100%.

Vitamin A, E, một số B-complex (như B9, B6, B7): từ 70 ~ 100%.

Amino acids và nhiều hợp chất khác: từ 80 ~ 90%.

Nhiều báo cáo (từ AFIA, USDA, Time Magazine, và các nguồn ngành) ước tính 70~80% nguyên liệu cho thực phẩm chức năng "Made in Mỹ" đến từ Trung Cộng (hoặc qua Ấn Độ, nhưng Ấn Độ cũng phụ thuộc Trung Cộng cho API = Active Pharmaceutical Ingredient = Hoạt chất dược phẩm hoặc Thành phần hoạt chất dược phẩm).

AFIA = American Feed Industry Association (Hiệp hội Công nghiệp Thức ăn Chăn nuôi Mỹ).

USDA = United States Department of Agriculture (Bộ Nông nghiệp Mỹ).


Thực phẩm bổ sung "made in" Nhật Bản:

Nhật Bản nhập khẩu khoảng 70% vitamin C cấp thực phẩm (food-grade) từ Trung Cộng.

Vitamin khác (như B-complex, E) và axit amin cũng phụ thuộc lớn vào nguồn Trung Cộng.

Nhật Bản phụ thuộc Trung Cộng khoảng 30-50% cho API (Active Pharmaceutical Ingredient - hoạt chất) và cao hơn với nguyên liệu thô/ midstream (có thể lên đến 60-80% ở một số loại như kháng sinh, vitamin, hoặc tiền chất).

Đối với thuốc bắc (kampo - thuốc thảo dược Nhật Bản), nguyên liệu sinh dược (生薬) phụ thuộc 83% từ Trung Cộng, và xu hướng này vẫn tiếp diễn dù có nỗ lực tăng sản xuất nội địa.

Nhiều sản phẩm như collagen, nattokinase, tảo xoắn, hoặc vitamin tổng hợp của các hãng lớn (DHC, FANCL, Shiseido, Meiji, Kobayashi...) thường dùng nguyên liệu tự nhiên hoặc tổng hợp. Một phần lớn (đặc biệt vitamin, khoáng chất, một số chiết xuất) được nhập từ Trung Cộng hoặc qua các nước khác nhưng gốc từ Trung Cộng.

GMP = Good Manufacturing Practice = Thực hành sản xuất tốt (hoặc Thực hành tốt sản xuất).

GMP áp dụng cho thuốc (dược phẩm), và áp dụng rộng rãi cho thực phẩm bổ sung (dietary supplements, health foods, サプリメント), thực phẩm bảo vệ sức khỏe.

Ở Nhật Bản:

Đối với dược phẩm (thuốc kê đơn/ không kê đơn): GMP là bắt buộc theo quy định của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW), gọi là Japan-GMP hoặc GMP Ministerial Ordinance (dựa trên tiêu chuẩn PIC/S quốc tế). Đây là một trong những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất thế giới, với quy trình kiểm tra kéo dài (thường 16-27 tháng), kiểm soát chặt chẽ nhà xưởng, thiết bị, nhân sự, vệ sinh, kiểm nghiệm...

Đối với thực phẩm bổ sung (không phải thuốc): GMP là tự nguyện (voluntary), không bắt buộc pháp lý như dược phẩm. Tuy nhiên, nhiều hãng lớn (DHC, FANCL, Otsuka, Meiji, Kobayashi, Shiseido...) tự nguyện áp dụng và được chứng nhận bởi các tổ chức như:

JANFA (Japan Health and Nutrition Food Association).

JIHFS (Japanese Institute for Health Food Standards).

Các hãng Nhật thường nhấn mạnh "GMP nghiêm ngặt" trên bao bì hoặc quảng cáo để xây dựng lòng tin, vì người tiêu dùng Nhật rất chú trọng chất lượng và an toàn. Họ thường thực hiện:

Kiểm nghiệm tại Nhật (third-party testing hoặc lab nội bộ).

Pha chế/ đóng gói nội địa (tại nhà máy Nhật Bản, dưới môi trường kiểm soát nghiêm ngặt như phòng sạch, kiểm soát nhiệt độ/ độ ẩm).

Tuân thủ Foods with Function Claims (FFC) – hệ thống công bố chức năng của Nhật (tương tự FDA nhưng linh hoạt hơn).

Các nguyên tắc chính của GMP (áp dụng chung, bao gồm Nhật Bản)

Nhân sự: Đào tạo, vệ sinh cá nhân.

Nhà xưởng & thiết bị: Thiết kế sạch sẽ, dễ vệ sinh, ngăn ngừa nhiễm bẩn.

Nguyên liệu: Kiểm tra nguồn gốc, lưu trữ đúng cách.

Quy trình sản xuất: Tài liệu hóa chi tiết, kiểm soát từng bước (trọng lượng, thời gian, nhiệt độ...).

Kiểm soát chất lượng: Kiểm nghiệm mẫu, theo dõi lô hàng.

Bảo quản & phân phối: Ngăn ngừa hư hỏng.

Tại sao các hãng Nhật nhấn mạnh GMP?

Giúp giảm thiểu rủi ro (như vụ Kobayashi red yeast rice 2024-2025, dù họ có GMP nhưng vẫn xảy ra vấn đề → chứng tỏ GMP tốt nhưng không phải 100% miễn nhiễm).

Tăng uy tín: "Made in Japan + GMP" thường được coi là bảo chứng chất lượng cao, đặc biệt khi so sánh với nguồn nguyên liệu nhập khẩu (như từ Trung Cộng).

Tuân thủ xuất khẩu: Nhiều sản phẩm Nhật xuất sang Mỹ/EU phải đạt GMP tương đương (cGMP của FDA).


Whey protein chất lượng tốt nhất thường đến từ Mỹ, châu Âu (Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Ireland), New Zealand, Úc – nơi có ngành chăn nuôi bò sữa lớn, quy trình sản xuất phô mai quy mô, và whey được tách ra làm phụ phẩm. Các hãng lớn như:

Glanbia (Optimum Nutrition, BSN), Hilmar (Mỹ), Arla Foods, FrieslandCampina, Lactalis (châu Âu), Fonterra (New Zealand) chiếm lĩnh thị trường whey cao cấp (grass-fed, hormone-free, WPI/WPC 80-90%).

Trung Cộng không phải nhà sản xuất whey lớn vì ngành sữa bò nội địa còn hạn chế (sản lượng phô mai thấp → ít whey phụ phẩm). Họ phụ thuộc nhập khẩu whey thô/ concentrate từ Mỹ/EU/New Zealand (hàng năm nhập hàng trăm nghìn tấn, chủ yếu cho sữa công thức trẻ em, thực phẩm chức năng, và thức ăn chăn nuôi).

Tuy nhiên, Trung Quốc có nhiều nhà máy pha chế, đóng gói, và sản xuất whey giá rẻ (WPC 80% hoặc thấp hơn), thường dùng whey nhập khẩu rồi pha trộn, thêm hương liệu, và xuất khẩu dưới dạng bột whey "Made in China" hoặc OEM cho các thương hiệu khác.

Một số sản phẩm whey rẻ tiền (đặc biệt trên Alibaba, Taobao, hoặc hàng xách tay giá rẻ) có nguyên liệu whey từ Trung Quốc hoặc pha trộn với whey nhập khẩu nhưng xử lý tại TQ.

Có trường hợp whey concentrate từ châu Âu/Mỹ được vận chuyển đến Trung Quốc để pha chế cuối cùng (flavoring, packaging) rồi dán nhãn "Made in USA" (nếu đóng gói lại ở Mỹ), nhưng điều này ít phổ biến hơn so với vitamin.