Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

Lực Đức Nguyễn - Sao vua Tự Đức đọc hết điều trần của Nguyễn Trường Tộ mà không làm?

 Sao vua Tự Đức đọc hết điều trần của Nguyễn Trường Tộ mà không làm?

Có lẽ chúng ta đều đã thuộc lòng câu chuyện này từ hồi đi học, rằng giữa thế kỷ 19 có ông Nguyễn Trường Tộ gửi lên triều đình mấy chục bản điều trần xin mở mang đất nước, vua quan nhà Nguyễn bảo thủ gạt đi hết, thế là mất nước. Tôi cũng thuộc, rồi cứ đinh ninh vua Tự Đức chẳng thèm đọc, mà có đọc chắc cũng chẳng hiểu gì!

Nhưng kỳ thực, vua có đọc, đọc kỹ là khác. Tôi có đọc thêm bộ Đại Nam thực lục (bộ sử do chính sử quan nhà Nguyễn chép). Năm 1866 vua sai Nguyễn Trường Tộ theo 1 ông quan ra Bắc "tìm kiếm than mỏ". Cũng năm ấy vua sai ông cùng giám mục Gauthier "sang nước Tây thuê thợ và mua máy móc" [1]. Năm 1870 ông mật tâu 2 cách đối phó với Pháp, sử chép: "Vua nghĩ Trường Tộ tâu về việc quân quốc hệ trọng, cho triệu về Kinh để hỏi" [2]. Tập điều trần còn giữ được tới giờ có cả chữ vua phê [3].

Thêm nữa, năm 1881, khi 1 ông quan ở viện Hàn lâm dâng sớ xin mở buôn bán, khai mỏ, cho người đi học máy móc, chính vua bảo các đại thần: "Nếu không tiến thì phải lùi mà thôi. Sự thế cố nhiên thế, bàn suông có bổ ích gì?" [4]. 1 ông vua biết đến thế mà 36 năm ở ngôi gần như không làm điều nào của Nguyễn Trường Tộ, thì kể cũng lạ thật! Vì sao vậy?

 

I. ÔNG VUA KHÔNG GHÉT MÁY MÓC

Tự Đức sinh năm 1829, lên ngôi năm 1847, lúc 18 tuổi. Ông hay chữ có tiếng, lại còn đọc cả báo in bằng chữ Hán ở Hương Cảng và Bắc Kinh để biết việc bên ngoài [5].

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 ở làng Bùi Chu, Nghệ An. Ông học giỏi có tiếng, khổ nỗi nhà theo đạo Thiên Chúa mà triều đình thì cấm người theo đạo đi thi, nên không đỗ đạt gì. Giám mục Gauthier thấy ông sáng dạ, dạy tiếng Pháp cho rồi đem sang Tây. Ở bên ấy ông hay tìm vào các xưởng thợ mà xem. Ông kể có lần tới 1 lò nấu sắt lớn: "Chúng tôi ở đó luôn 1 tuần lễ, được xem hết các phép đúc sắt của người ta mới hiểu rõ cái chỗ phú cường ở nước họ khác xa với nước mình" [6].

Về nước, từ năm 1863 tới lúc mất năm 1871, ông viết hết bản này tới bản khác. Xin dạy cái học thực dụng thay cho văn chương, xin khai mỏ, mua tàu máy, mua súng, xin vay tiền các hiệu buôn Hương Cảng, xin chơi với nước Anh để kìm nước Pháp, v.v. và v.v..

Và vua không gạt đi. Vua sai ông đi tìm mỏ, đi mua máy. Năm 1875 vua còn xuống dụ cho các tỉnh: "Phàm máy móc như xe, thuyền, súng, khí giới, đồng hồ, cho đến các đồ dùng về cày, dệt", ai làm được thì tâu tên lên, "không cứ hạng người nào", sẽ thưởng chức quan [7]. Ông vua này đâu có ghét máy móc!

 

II. NGƯỜI VIẾT LÀ AI?

Năm 1868 có 1 người ở Ninh Bình tên Đinh Văn Điền mật tâu mấy việc nên làm để chống Pháp. Xin khai mỏ vàng, đóng tàu thủy, mời người phương Tây đến, cho lính chuyên tập bắn, tăng lương, lính chết trận thì dùng con cháu. Nghe có sai chỗ nào đâu?

Thế nhưng sử chép đình thần cho rằng "tên ấy là đầu sỏ trong đám giáo dân", lời tâu ấy "chẳng qua cố muốn theo đạo giáo", lại đang lúc dân lương với dân giáo "chưa hết nghi kỵ", có dùng thì "dễ sinh gièm pha, ngờ vực". Rồi sử chép tiếp đúng 1 câu: "Vua bèn sai bỏ đi" [8].

Ô! Cả đoạn ấy các quan không bàn lấy 1 chữ về chuyện đóng tàu, chỉ bàn người viết là ai! Hồi ấy quân Pháp vào nước ta đi cùng các giáo sĩ, triều đình thì đã cấm đạo mấy chục năm, nên hễ ai theo đạo mà nói chuyện học phương Tây là bị ngờ nói giúp cho Tây.

Nguyễn Trường Tộ cũng theo đạo, lại chưa đỗ đạt gì. Năm 1867 ông xin cho 1 người tên Di Minh tới Kinh để mật trình tình hình quân Pháp trong Nam. Viện Cơ mật đề nghị khước từ, vì lý lịch người ấy chưa rõ và sợ người Pháp ở Sài Gòn sinh ngờ [9]. Ông cũng biết người ta ngờ mình. Mấy tháng trước khi mất ông viết: "Chỉ vì tôi là 1 kẻ thường dân và lời nói lại thô vụng, nên Triều đình không thèm để ý đến; chứ nếu có ông Khổng Minh sống lại mà viết ra tập tấu này, thì dù có sai lộn 1 đôi điều, cũng chẳng ai dám bàn đến" [10].

 

III. ĐƯA CHO CÁC QUAN XÉT

Nhưng chưa xong. Có những ông quan đỗ đạt hẳn hoi, đi Hương Cảng về rồi xin đúng những điều ấy, mà vẫn không thành!

Lệ của triều đình là việc lớn thì vua "giao đình thần bàn". Đình thần là các quan đầu triều, ông nào cũng đi lên bằng thi cử văn chương.

Hồi ấy người đi học được miễn đi lính. Ông đỗ tú tài thì được miễn lính suốt đời, miễn thuế thân, miễn tạp dịch [11]. Nguyễn Trường Tộ viết rằng nhiều người đi học chỉ cốt để khỏi ra lính, rằng bọn ấy là "bọn ăn trộm thuế khóa của nhà nước 1 cách khéo léo". Ông xin triều đình lựa những cử nhân, tú tài có sức mạnh, "bắt họ bỏ văn qua võ" [12].

Ông xin giảm bớt số quan, đem 2, 3 tỉnh hợp làm 1. Ông kể bên Tây ông quan nào về hưu "cũng phải trở lại làm dân". Ông còn viết rằng ở bên ấy, "dầu đấng quốc vương cũng không được lấy ý riêng của mình làm tội 1 người nào mà không có quan bộ Hình thuận ký" [13].

Tóm lại, xin bớt quan mà lại đưa cho chính các quan xét! Hãy tưởng tượng bây giờ có ai viết đề án cắt 1 nửa số phòng ban, rồi đề án ấy được giao cho chính các ông trưởng phòng họp bàn xem nên hay không nên. Họ bàn ra sao thì ai cũng đoán được!

Mà các quan không bao giờ nói thẳng là không. Năm 1868, 2 ông quan đi Hương Cảng về xin mở cửa biển Trà Lý ở Nam Định cho tàu nước ngoài vào buôn bán. Đình thần tâu rằng đây "là việc làm lần đầu", xin giao cho quan tỉnh "khám xét, tính kỹ lợi hại" đã. Sử chép: "Việc ấy sau rồi không làm", có chua thêm rằng cửa ấy cát nông, tàu lớn khó đỗ [14].

Năm 1881 thì tới lượt ông quan hàn lâm đã nói ở trên. Viện Cơ mật xét xong tâu rằng lời ông ấy "không phải không có định kiến", có điều khoản mở buôn bán thì "có phần không tiện", các khoản còn lại xin "đợi có người xin đi, các tỉnh tâu lại", rồi sẽ tính [15]. 13 năm sau mà các quan vẫn trả lời y như cũ!

Năm 1878 Philastre (1 viên chức Pháp ở Huế rất rành chữ Hán) viết về mấy ông quan nhỏ và hào phú trong nước rằng chính ở đám này mới có những trở ngại "mạnh mẽ nhất, chống lại mọi cuộc canh tân hay mọi cố gắng đổi thay" [16]. Sử gia Nhật Tsuboi thì trách ngược lại các nhà cải cách, rằng các ông ấy không hề tự hỏi mình sẽ dựa vào những ai để làm.

 

IV. AI CHỊU LỖI ẤY?

Nhưng vua là người quyết sau cùng kia mà! Vua đã biết phải tiến thì sao không cứ làm?

Cũng trong năm 1866, khi phái đoàn mua máy đã đi rồi, 4 vị đại thần cùng đứng tên dâng sớ. Các ông kể triều đình mới mua 2 chiếc tàu thủy, giá "đến trăm vạn bạc". Thợ của ta cho theo tàu để học thì người Tây "lại không chịu dạy cho". 1 chiếc hỏng, phải thuê thợ Tây sửa, họ đòi 50.000 đồng, mà mua về chưa đầy 1 năm! Nay lại sai người sang Tây mua máy thuê thợ nữa thì "phí tổn không thể chịu nổi, học không thể thành tài". Các ông xin vua "trước làm việc dễ, sau làm việc khó" [17].

Vua đáp rằng "việc làm từ trước đến nay, đã biết lãng phí nhiều", rằng "được không phải làm mà thành công, thì may lắm", còn làm mà "hoặc có không hợp hỏng việc, ai chịu lỗi ấy". Sử chép vua "bèn nghe theo".

Ai chịu lỗi ấy? Theo tôi vua không làm là vì mấy chữ này. Mua tàu về mà tàu hỏng, tốn 50.000 đồng, thì cả triều biết ai đã hạ lệnh mua. Còn không mua thì chẳng có gì hỏng cả, 20 năm sau có mất nước thì người ta trách thời thế. Cũng như ông giám đốc ký mua dàn máy mới, máy trục trặc là ông bị kiểm điểm ngay, còn cứ để máy cũ chạy thì 10 năm sau công ty có sập cũng là tại thị trường! Năm 1867 chính vua viết: "To lớn như nước Đại Thanh, mà cũng không biết tự cường, thì nước khác còn nói gì nữa" [18].

Vả lại, Tự Đức là ông vua rất sợ mang thêm lỗi. Ông là con thứ, được các đại thần đưa lên ngôi thay cho người anh cả. Người anh ấy về sau chết trong ngục. Cũng trong năm 1866, ngay ở Kinh thành có 1 đám nổi loạn dính tới con trai của người anh [19]. Ông lại không có con nối ngôi. Cũng trong bài viết năm 1867 ấy ông than: "Bên trong không có sự vui về con nối ngôi, bên ngoài nhiều việc khó yên".

Thú thực, đọc tới chuyện sau đây tôi thấy vừa buồn cười vừa thương. Năm 1875 bộ Lại dâng lên 16 cuốn sách Tây dạy binh pháp, dạy chế đạn. Vua sai dịch. Mấy người được giao dịch thưa rằng họ học tiếng Pháp "chỉ hơi biết giấy tờ đi lại, còn như máy móc kỹ nghệ, đều không biết rõ". Thuê người Tây dịch thì 6, 7 năm mới xong. Cuối cùng bộ xin giao sách cho viện Cơ mật cất giữ, chờ khi nào có người đi Tây học thành tài về thì dịch [20]. Oái oăm thay, muốn có người ấy thì phải mở trường, cho người đi học, tức là lại phải làm đúng những việc đang bị gác lại!

 

V. MỘT LẦN LÀM TRÁI Ý CÁC NHÀ NHO

Cũng có 1 lần vua làm trái ý giới nhà nho. Năm 1874, sau khi quân Pháp rút khỏi Bắc Kỳ, 2 ông tú tài ở Nghệ An nổi lên giết giáo dân. Quan địa phương được lệnh đi dẹp thì nhiều người lại ngả về phía các ông tú! Phe nổi dậy chiếm cả thành Hà Tĩnh. Vua phải gọi quân giỏi nhất về, nhờ cả tàu Pháp, mấy tháng mới yên. Sang năm 1875 vua tăng thuế ruộng tư thêm 1 nửa [21].

Theo Tsuboi, từ đấy các nhà nho bỏ vua. Mà triều đình xưa nay cai trị các làng thông qua quan lại và nhà nho, vua không có đường nào tới thẳng người dân. Mất họ thì vua còn ai để sai? [22] Tôi nghĩ sau năm ấy vua càng ngại đụng tới họ. Mà điều trần của Nguyễn Trường Tộ thì điều nào cũng đụng tới họ.

Cùng mấy năm ấy nước Nhật đang đổi mới. Tsuboi để ý rằng người Nhật hồi đó có câu "Hòa hồn Dương tài" (hồn Nhật mà tài Tây), người Tàu có câu "Trung thể Tây dụng", còn lật cả bộ Thực lục nhà Nguyễn thì không thấy 1 câu nào như vậy [23]. Ông Nguyễn Lân, người viết sách về Nguyễn Trường Tộ năm 1941, có nghe kể chuyện Nguyễn Trường Tộ gặp Itō Hirobumi ở Hương Cảng. Itō bảo: "Kể tài trí thì ông hơn tôi nhiều, nhưng cứ theo tình thế 2 nước ta, thì tôi sẽ có thể dễ dàng thành công còn ông thì e sẽ hoàn toàn thất bại". Chính ông Nguyễn Lân cũng nói luôn là không biết chuyện ấy bằng cứ vào đâu, nên ta nghe thì biết vậy [24].

Năm 1871, mấy tháng trước khi mất, Nguyễn Trường Tộ viết: "Đã 7, 8 năm nay vẫn chưa thấy Triều đình làm được việc gì, có lẽ để chờ trăm năm nữa mới làm được hay sao?" [25]. Cuối năm ấy ông mất. 10 năm sau vua Tự Đức mới nói câu "nếu không tiến thì phải lùi". Tháng 7 năm 1883 vua mất. Khoảng 1 tháng sau tàu Pháp bắn vào cửa Thuận An, triều đình ký giấy nhận bảo hộ.

TB: Sách viết vua quan bảo thủ nên gạt điều trần đi, câu ấy không sai. Có điều vua không gạt, vua đem giao cho các quan bàn, mà các quan lại chính là người mất phần nếu làm theo. Còn vua thì sợ làm mà hỏng sẽ bị trách ngay, chứ ngồi yên thì chưa ai trách được gì.

 

Nguồn:

[1][2][4][7][8][14][15][17][18][20] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Đệ tứ kỷ, phần chép các năm Tự Đức thứ 19 (1866), 20 (1867), 21 (1868), 23 (1870), 28 (1875) và 34 (1881).

[3][6][10][12][13][24][25] - Nguyễn Trường Tộ - Từ Ngọc Nguyễn Lân, Mai Lĩnh, in lần 2 năm 1942, phần Vài lời nói thêm, chương I Nguyễn Trường Tộ, chương II Nguyễn Trường Tộ với Khổng giáo và hủ nho, chương XIV Nguyễn Trường Tộ với Triều đình và quan lại. Các câu của Nguyễn Trường Tộ lấy từ những bản điều trần sách này trích dịch.

[5][11][16][19][21][22][23] - Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa - Yoshiharu Tsuboi, Nguyễn Đình Đầu dịch, chương V Các nhân vật chủ yếu của chính quyền Tự Đức, chương VI Nhóm trung thành và nhóm đối kháng, chương VII mục Các dự án cải cách và hiện đại hóa, chương VIII Tầng lớp văn thân xa lánh Tự Đức và phần Kết luận.

[9] - Châu bản triều Tự Đức 1848-1883 (tuyển chọn và lược thuật), bản tấu của Viện Cơ mật ngày 11 tháng 4 năm Tự Đức thứ 20 (1867).

 

Hình 1: Thủy thủ và lính thủy đánh bộ Pháp lội nước đổ bộ lên bãi cát để đánh các đồn Thuận An ngày 20 tháng 8 năm 1883, phía xa là tàu chiến đang bắn vào bờ. 


Hình 2: 1 thủy thủ Pháp cầm cờ đứng bên khẩu đại bác sau khi chiếm xong các đồn Thuận An, dưới chân là xác 1 người lính Việt. 


Cả 2 tranh khắc đều in trong sách La guerre du Tonkin của L. Huard, Paris, 1887. Ảnh: Wikimedia Commons.

====================== 

Giờ b bảo đcs tham nhũng xong bảo đa đảng giống các nước phát triển xem họ có làm không :)) gần như giới tinh hoa không bao giờ thay đổi trật tự xã hội mà họ đang trên đỉnh. Tư tưởng mới thường đến từ tầng lớp trung lưu (cũng không phải tầng lớp ít học ở đáy), khi đất nước phát triển thì trung lưu họ đông đảo và sẽ đòi thay đổi (ví dụ thời cách mạng pháp đất nước đang trên đà phát triển). Còn ở Nhật thiên hoàng cải cách vì vốn dĩ ông ta không có thực quyền, ông ta lợi dụng việc mạc phủ thua quân tây để lôi kéo người cải cách bãi bỏ chế độ cũ.

Cứ hình dung 1 ông cựu chiến binh bây giờ lương hưu vài chục triệu mà nghe ai nói đụng đến lý lẽ về cuộc chiến 54-75 khác cái họ nói là đã nhảy dựng lên như đổ nước sôi vào d' rồi thì thời xưa tầng lớp đại sĩ phu và quý tộc đất đai, quyền lực, danh tiếng cỡ đó đời nào nó từ bỏ. Ngay kể cả chữ quốc ngữ nếu không có Pháp thuộc ép bỏ khoa bảng thì giờ người VN vẫn dùng chữ Hán thôi, sĩ phu quan lại nó cả đời đọc nho giáo với chữ nho để thăng tiến, đời nào nó tự giác bỏ đi.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Phước Đức vs Công Đức

Phước Đức là hành động bố thí những vật chất hữu lậu như tiền bạc, của cải, thức ăn hoặc sức lao động.

Công Đức là hành động bố thí vật chất vô hình vô lậu như trì giới, tu hành, đọc tụng kinh sách, hồi hướng cho người khác.

Phước Đức là hành động hướng ra bên ngoài tác động vào những vật chất hữu hình.

Công Đức là hành động trì giới, tu hành hướng vào nội tâm bên trong.

Duyên nghiệp của Phước Đức là sự giàu có về tài sản, hoặc cuộc sống dễ dàng vui vẻ...

Duyên nghiệp của Công Đức là sự chuyển hóa về nội tâm hướng đến đoạn tận thoát khỏi luân hồi.

Phước Đức giống như ngọn đèn cháy độc lập, dù đèn có nhiều dầu đến mấy cũng đến lúc cháy hết, cạn dầu.

Công Đức như ngọn đèn cháy rồi mồi sang một ngọn đèn khác, cứ liên tục như vậy nối tiếp từ ngọn đèn đầu tiên đến hàng vạn ngọn đèn tiếp theo... Khi người tu tập trì giới chân chính và cứ sau mỗi thời tu tập trì giới, tụng kinh hay thiền định, lại đem công đức đó đi hồi hướng cho mọi người thì công đức của bản thân không bị cạn mà còn lan tỏa lợi ích cho tất thảy, đem lại ánh sáng mãi mãi không ngừng.

Trương Nhân Việt - SƠN CHÀ ở Đà Nẵng

Sơn Chà và lịch sử Miền Trung

Trương Nhân Việt 

Trước 1975 ở Đà Nẵng người ta gọi Sơn Chà như hình chiếc xe đò, xe chạy từ vùng bên bán đảo Sơn Chà vô nội thành Đà Nẵng.

Bằng chứng và nhân chứng còn ghi.

Một tấm bản dồ thời Pháp in Đà Nẵng khi đó có tên là Tourane, nhìn trên tấm bản đồ in khúc bán đảo có chữ Tien-Cha là địa danh ghép Tiên Sa phía tây và Sơn Chà phía đông.

Trước 75 công văn hành chánh thời Việt Nam Cộng Hoà, địa danh là bán đảo Sơn Chà. Nha Tiên Cảng nằm trong bán đảo Sơn Chà.

Sơn Chà chứ không phải Sơn Trà, trên bán đảo Sơn Chà không hề có một cây trà nào.

Ở vùng này, tên Chà là chánh thống, bán đảo Sơn Chà và Hòn Sơn Chà (Hòn Chảo) là một đảo nhỏ ngoài biển giữa Đà Nẵng và Huế.

Chữ chà là chữ Nôm, là chữ thuần Việt, nhưng thời xưa khi viết lên hành chánh các ông quan không tìm ra chữ Hán Việt thế nó được nên viết thành trà.

Bán đảo Sơn Chà bị viết thành Sơn Trà 山茶, chữ trà 茶 chỉ là chữ mượn âm Hán Việt thế chữ chà mà thôi.

Sơn Chà ở Đà Nẵng có thể có hai nghĩa, là cây sơn chà hoặc từ gốc một chữ Chàm nào đó mà ra.

Ở Miền Trung có rất nhiều địa danh gốc Chàm không thể dịch hoặc viết thẳng sang âm Hán Việt một cách chính xác.

Thí dụ Kauthara (Nha Trang) được phiên âm Hán Việt thành Hà Ra hoặc Hà La không chính xác.

Rồi La Gi, Đề Gi, Phan Rang, Phan Rí, Cà Ná, Cà Ty... cũng không phiên âm ra Hán Việt đặng.

Địa danh Đà Nẵng cũng từ tiếng Chàm và không phiên âm ra Hán Việt được.

Chữ "chà" có trong tiếng Việt cổ cũng có dính dáng tiếng Chàm.

Tên kinh đô Vijaya của vương quốc Chàm cổ ở Bình Định có tên là thành Chà Bàn, rồi Đồ Bàn, rồi từ từ thành Trà Bàn.

Chà Bàn là một cách ghi âm của Vijaya đã bị chữ nghĩa Hán Việt biến thành Trà Bàn.

Học giả Hoàng Xuân Hãn khẳng định Đồ Bàn là chép lầm của Chà Bàn.

“Thành Phật Thệ, kinh đô Chiêm Thành thời bấy giờ, ở vào địa phận tỉnh Bình Định ngày nay. Tên Chàm là Vijaya; sau có tên Chà Bàn, ta thường chép lầm ra Đồ Bàn”.

Từ Chà Bàn còn chép thành Trà Bàn.

Miền Trung có nhiều xứ tên Trà như Trà Bồng, Trà My, Trà Kiệu...thì cái chữ Trà chỉ do âm Hán Việt viết ra thôi, chữ gốc là Chà.

Không dám khẳng định địa danh Trà ở Miền Trung phần lớn viết từ Chà mà qua, nhưng hình như có một phần nhiều là vậy, ngoại trừ một số ít.

Tên ba con sông lớn ở Quảng Ngãi là Trà Khúc, Trà Bồng, Trà Câu đều có gốc tiếng Chàm. Trà (Chà) trong tên ba con sông trên bắt nguồn từ tiếng Chàm Ia, nghĩa là sông, nước.

Trà Khúc là do tên Trà Giang Cửu Khúc (sông Trà có 9 khúc) nói rút gọn, Trà Bồng do sông này bắt nguồn từ làng Thanh Bồng, còn Trà Câu là vì sông ngắn so với hai sông kia, nên ghép từ Câu 沟 có nghĩa lạch, khe, rãnh nước vào sau từ Trà.

Đại Nam nhứt thống chí, tỉnh Quảng Nam, mục viết về núi Xuân Thiều có ghi dòng chữ “cổ tháp Trà Vương di tích”.

Ở gần Cà Ná Ninh Thuận có núi Chà Bang mà người Việt gọi Tam Sơn. Chà Bang tiếng Chàm Cabang nghĩa là núi chẻ, chà này không liên quan Vijaya.

Trà (Chà) Co ở Ninh Thuận, Trà Co gốc Chàm Cako (Chà Co) nghĩa là móng tay, chưn.

Chà là từ chữ Chàm. Sách sử triều đình phiên âm thành Trà. Thành ra có Chà Bàn mà vẫn có Trà Bàn.

Ngay họ các vua Chàm cũng có họ Trà. Chà (Trà) là từ chữ Vijaya mà ra. Có vua Trà Toàn, Trà Hòa Bố Đế... Sử Việt ghi bốn họ của vua Chàm là Ông, Ma, Trà, Chế.

Trở lại với Sơn Chà của Đà Nẵng có thể là từ chữ Chàm, nhưng rất có lý khi nó mang tên một loài cây bổn địa là cây sơn chà.

Có bản đồ ghi Sơn Trà, nhưng có nhiều bản đồ ghi là Sơn Chà.

Sơn Chà là đúng nhứt vì cái tên Sơn Chà trên xe đò trước 1975 minh chúng do sự lựa chọn đúng nhưt của dân Đà Nẵng.

Sơn Chà ở Đà Nẵng là nạn nhân của vấn nạn "chuẩn Bắc" sau 1975. Sau 1975 Sơn Chà bị triệt tiêu.

Sau 1975 biến thành Sơn Trà, Ngày nay có quận Sơn Trà và giờ là phường Sơn Trà.

Chữ chà khác chữ trà. Người chuẩn Bắc không phân biệt được chà và trà.

Ở Miền Trung bị biến âm nhiều lắm sau 1975.

Trước 1975 có quận Thường Đức của Đà Nẵng, sau 1975 giờ thành xã Thượng Đức. Thường Đức có nghĩa là đạo đức không thay đổi, còn chữ Thượng Đức thì qua nghĩa khác.

Thường Đức ở phía Tây Nam Đà Nẵng khoảng 50 cây số, nơi đây có một căn cứ của quân lực Việt Nam Cộng Hoà và Huê Kỳ. Trận đánh Thường Đức (29/7/1974 – 11/11/1974) rõ ràng, nhưng sau 1975 thành "trận Thượng Đức" mới ghê! "Đánh" luôn địa danh và Tiếng Việt ha?

Trước 1975 ở Hội An có Cửa Đợi, sau 1975 bỗng dưng thành Cửa Đại.

Có rất nhiều chữ bị rau muống mắm tôm biến hóa .

Qui Nhơn thay thành Quy Nhơn. Rồi Darlac thành Daklak, cái chữ K vốn vô dụng. Cầu Trường Tiền ở Huế có lúc bị thay đổi thành Tràng Tiền kiểu Hà Nội, bị chửi riết đối lại Trường Tiền.

Còn Miền Nam thì đổi vô tội vạ, Tân Sơn Nhứt bị biến thành Tân Sơn Nhất, Cầu Gành thành Cầu Ghềnh, kinh thành kênh, rạch bị biến thành kênh... 


Ghi chú bởi HNN:

Chữ 茶 trong phiên âm tiếng Nhật đọc là "cha", như mat-cha 抹茶 = mạt chà.

Trong tiếng Hoa Ngữ (truyền thống), chữ 茶 cũng đọc là "chá" như trong hình bên dưới



Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Luật sư bên bị cáo: Kể lại vụ kiện Chất Độc Màu Da Cam: Nội dung chưa xác định được là có thật hay không

Đây là một bài viết được chia sẻ trên Internet trong hơn 10 năm qua. Nội dung của bài viết không biết là có thật hay không. Vì vậy người đọc phải tự mình suy luận.

Luật sư bên đi kiện viết tắt là LSBK.

Luật sư của bên bị kiện (viết tắt là LSBB) đã kể lại diễn biến của vụ kiện này như dưới đây:

============

Đến ngày hôm nay chắc nhiều em học sinh vẫn nghĩ rằng nguyên nhân gây nên quái thai, dị dạng là do Chất Độc Màu Da Cam (CDMDC) của Mỹ đã rải xuống VN, vậy có đúng không?

Các nhà sản xuất nói rằng đây là một loại thuốc diệt cỏ dùng trong nông nghiệp, để khai hoang những vùng đất mới. Tác dụng với cây rừng là chỉ làm rụng lá cây ở những cánh rừng rậm rạp và lượng độc chỉ đủ làm rụng lá chứ không làm chết cây, vài năm sau những cánh rừng đó lại phát triển trở lại. Mục đích của chính quyền VNCH và đồng minh Mỹ là không cho lính có nơi ẩn nấp ở trong các khu rừng của VNCH. 

Hiệp hội nạn nhân chất độc da cam Việt (NamVietnam Association for Victims of Agent Orange, and others) kiện công ty sản xuất chất độc màu da cam (Dow Chemical Company, and others) tại tòa án ở Mỹ (United States Court of Appeals For the Second District, United States). Tòa đã phán quyết rằng các nguyên đơn đã không chứng minh được cáo buộc vi phạm luật quốc tế. Tức là bên nguyên đơn đã bị xử thua.

Bước vào tòa án, chúng ta có những nhân vật trí thức hàng đầu VN như là GS-TS Phan Thị Phi Phi đại học y Hà Nội, GS-BS Dương Quỳnh Hoa thứ trưởng bộ y tế, GS-BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng giám đốc bệnh viện Từ Dũ, một số tướng tá, luật sư và những người mẹ có những đứa con bị quái thai đến làm nhân chứng sống. Nguyên một phái đoàn tai to mặt lớn của “đảng ta” tập hợp lại để đi đánh trận chiến này.

Bên bị kiện là tập đoàn Cty sản xuất CĐMDC. Và họ đã thuê một ông luật sư người Mỹ gốc Việt để làm luật sư biện hộ cho họ. Mức đòi bồi thường của “đảng ta” đưa ra là 2tỷ US$.

TRANH CÃI 1:

LSBB hỏi rằng CĐMDC có màu gì? Phái đoàn của ta ai cũng ngơ ngác và không muốn trả lời, đến khi thẩm phán ra hiệu lệnh bắt buộc phải trả lời câu hỏi của bên bị, thì lúc đó GS-BS Dương Quỳnh Hoa mới đứng dậy trả lời: CĐMDC thì tất nhiên là màu cam rồi luật sư hỏi câu này không thấy thừa hả? LSBB hỏi tiếp, tại sao bà biết là màu cam? Bà Dương Quỳnh Hoa trả lời: lúc còn ở chiến khu chính mắt tôi nhìn thấy máy bay của Mỹ rải một chất bột màu cam làm đỏ chóe cả một vùng trời.

Ông luật sư bật cười và nói CĐMDC là màu trắng chứ không phải màu cam. Ông gọi những chuyên gia về hóa chất lên tòa chứng minh và trình bày cách sử dụng. Đúng là CĐMDC là màu trắng, dạng bột và phải hòa vào với nước xịt lên cây mới có tác dụng. Điều đó chứng minh những lời của bà Dương Quỳnh Hoa là những lời nói dối, trong khi đó trước khi lên tòa làm chứng bà ấy đã đặt tay vào cuốn luật pháp tuyên thề là sẽ không nói dối nhưng câu trả lời đó đã tố cáo bà ta.

Những người dân như chúng ta không biết CĐMDC là màu gì thì đó là chuyện bình thường còn đằng này là một GS đi kiện người ta mà còn không biết, thì đúng là GS chưa chuẩn bị cho tốt.

Theo quy định của Mỹ chất độc để trong những thùng chứa được xếp theo màu, chất cực độc là thùng màu đỏ, thấp hơn là thùng màu cam rồi đến màu vàng. Chất độc loại này phải đóng trong bao bì mầu cam, thùng chứa, hộp chứa màu cam. Ở Mỹ tất cả các chất độc được chứa trong bao bì màu cam thì được gọi là "Orange Agent" là chất màu cam. Do tuyên truyền quá hay nên hầu hết cứ tưởng CĐMDC có màu cam.


TRANH CÃI 2:

LSBB hỏi: Những người mẹ bị nhiễm dioxin đến đây làm nhân chứng tại sao toàn là người miền Bắc mà chẳng thấy ai là người miền Nam? 

“đảng ta” lại được một phen “đứng hình” vì chất độc được rải ở miền Nam chứ đâu phải miền Bắc, điều đó chứng tỏ họ đã vi phạm hiệp định Giơ-ne-vơ vì đã xâm nhập biên giới bất hợp pháp vào một vùng chiến sự của công ước quốc tế. Có nghĩa rằng những người này là NHÂN CHỨNG GIAN  được đảng sắp xếp mang đến đây.


TRANH CÃI 3:

LSBB hỏi: hỏi tổ chức y tế thế giới rằng: đất nước nào có số lượng quái thai nhiều nhất thì được biết rằng đó là những nước ở Châu Phi, số lượng quái thai ở những quốc gia đó gấp cả chục lần VN, và những quốc gia đó không hề bị nhiễm dioxin, điều đó chứng minh rằng CĐMDC không hề gây quái thai. 

Bị quái thai hay không nguyên nhân chính là do phụ nữ khi mang thai không cung cấp đủ dinh dưỡng cho thai nhi và ăn những thức ăn quá hạn, những thức ăn có độc tố.

Lúc đó ở miền Bắc rất là nghèo đói toàn ăn sắn, ăn mì, ăn bo bo, ăn những thứ lương khô có nhiều chất bảo quản của TQ và Liên Xô viện trợ, sĩ quan còn được ăn lương khô có hạn sử dụng còn lính quèn thì đa số bị ăn lương khô không có hạn sử dụng, vì vậy người dân miền Nam có ai bị quái thai đâu, những ca quái thai toàn là người dân miền Bắc.


TRANH CÃI 4: 

LSBB: đưa ra danh sách cả trăm quốc gia trên thế giới sử dụng dioxin nhưng không có một quốc gia nào nói rằng dioxin gây nên quái thai, thậm chí năm 1976 ở ITALY  bị nhiễm dioxin gấp trăm lần VN nhưng tuyệt nhiên không có một trường hợp nào bị quái thai, chỉ có VN là quốc gia Duy Nhất trên Thế Giới Tuyên Bố dioxin gây nên quái thai mà thôi. 


TRANH CÃI 5:

LSBB: nếu bạn bị đâm thì bạn kiện thằng đâm hay kiện thằng bán dao? Sao không kiện chính phủ Mỹ mà lại đi kiện Cty SX CĐMDC, đúng không? Nhưng mà làm gì dám kiện chính phủ Mỹ vì lúc đó Mỹ là đồng minh của miền Nam, tui rải chất độc ở vườn nhà tui chứ đâu có rải ở nhà anh, nhà tui không có ai bị mắc bệnh mà nhà anh bị mắc bệnh thế mới ngược đời.


HÒA ĐÀM:

Phiên tòa diễn ra năm ngày nhưng đến ngày thứ ba thì “đảng ta” cảm thấy khó thắng được vụ kiện này nên đã đàm phán với Cty SX CĐMDC rằng: chúng tôi sẽ giảm số tiền bồi thường từ 2 tỷ US$ xuống còn 200 triệu US$ nếu các ông đồng ý bồi thường thì chúng tôi sẽ rút đơn kiện kết thúc tại đây và sau này cũng không còn kiện cáo gì nữa.

Thật ra từ đầu “đảng ta” cũng biết rất khó thắng vụ kiện này nhưng vì thấy người Mỹ quá nhân đạo, họ tài trợ cho những tổ chức quốc tế quá nhiều, đất nước nào nghèo nàn, lạc hậu đều được Mỹ hỗ trợ, vậy nên “đảng ta” muốn kiếm một khúc để mang về chia chác với nhau.

Một tập đoàn hơn 30 Cty SX thuốc bảo vệ thực vật, SX hạt giống cây trồng thì 200 triệu US$ đối với họ cũng không phải số tiền lớn nên họ đã đồng ý bồi thường để chấm dứt vụ kiện. Nhưng, ông luật sư người Mỹ gốc Việt nhất quyết không đồng ý, ông ấy nói với Cty SX CĐMDC rằng: lúc quý vị tìm đến tôi để nhờ tôi cãi vụ kiện này, từ đầu tôi đã nói với quý vị là tôi sẽ không để cho quý vị phải tốn một đồng nào từ vụ kiện này, nếu tôi thua kiện tôi sẽ xé cái bằng luật sư của tôi trước tòa và sau này không bao giờ bước lên tòa nữa.

Cuối cùng Cty SX hóa chất cũng chấp nhận yêu cầu của ông luật sư tiếp tục vụ kiện. Thật là xui cho “đảng ta” gặp đúng ông luật sư chế độ VN Cộng Hòa, một người sống lưu vong để chạy trốn chế độ cộng sản.


NGÀY CUỐI PHIÊN TÒA:

Phiên tòa ngày cuối cùng mở ra, “đảng ta” dùng chiêu "khổ nhục kế" mang mấy chục cái hũ đựng những đứa bé sơ sinh dị dạng lên trước tòa để đánh vào lương tâm của con người.

LSBK nói với bồi thẩm đoàn: Cho tôi hỏi những vị bồi thẩm đoàn ở đây có vị nào có con không? nếu chẳng may quý vị sinh ra một đứa con giống như những đứa bé ở trong những cái hũ này thì quý vị có đau lòng hay không? Những người mẹ của những đứa bé này họ xứng đáng được bồi thường những tổn thất vì chiến tranh gây ra...  

Sau khi luật sư của “đảng ta” nói xong những vị bồi thẩm đoàn ai cũng rơi nước mắt vì họ nhìn thấy những em bé quá thương tâm, đứa thì không có mắt, đứa thì không có mũi, đứa thì không có miệng, đứa thì cụt tay cụt chân.

Trước khi phiên tòa kết thúc ông luật sư bên bị mới đứng dậy phát biểu: Cho tôi hỏi những vị bồi thẩm đoàn ở đây có vị nào có con không? Nếu chẳng may quý vị sinh ra một đứa con giống như những đứa bé ở trong những cái hũ này thì quý vị có đồng ý cho phép một nhóm người nào đó hoặc một tổ chức nào đó đem thi hài con của quý vị đến đây để làm điều kiện trao đổi mang về cho quý vị một số tiền hay không? 

Quý vị trả lời đi? 

Những đứa bé này chúng có quyền được chôn cất, chúng có quyền được yên nghỉ, chúng có quyền được về với thiên đàng chứ không phải để mang đến đây làm một cuộc giao dịch...

Tôi chỉ muốn nói một điều, quý vị hãy suy nghĩ thật kỹ trước khi đưa ra phán xét cuối cùng. 

Sau khi phát biểu xong ông luật sư bên biện hộ ngồi xuống thì tất cả những vị bồi thẩm đoàn đứng dậy vỗ tay.

Đoàn bồi thẩm vào phòng họp riêng để nghị án. Hai tiếng đồng hồ sau, đoàn bồi thẩm đọc kết quả nghị án của họ. Tội danh không thành lập. Cuối cùng thẩm phán đã tuyên bố Cty SX CĐMDC vô tội. 


Video nói về vụ kiện chất độc màu da cam:

1- 

https://youtu.be/SAqsJmldh9c?si=WZnXSz9XU56Ae82K

2- 

https://youtu.be/WdfaKdAdcJM?si=GviL_yrpHQGzUUlx

3-

https://youtu.be/Yt3HgJrHB2Y?si=XiZgERV_GmHVFRv6


Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Chữ "PHÁP"

1) Pháp — Dharma

  • Sanskrit: धर्म

  • IAST: dharma

  • Dharma (धर्म) là một từ Sanskrit (Phạn) rất quan trọng trong Ấn Độ giáo, Phật giáo và một số truyền thống Ấn Độ. Chữ Pháp trong tiếng Việt/Hán-Việt chính là cách dịch Dharma.

  • Dharma bắt nguồn từ căn √dhṛ (धृ), có nghĩa là “giữ, nâng đỡ, duy trì”.

    Vì vậy, nghĩa rộng của Dharma là:

    Điều giữ cho sự vật tồn tại đúng với bản chất và trật tự của nó.

    Tùy hoàn cảnh, Dharma có thể được dịch là:

    • Pháp

    • đạo lý

    • bổn phận

    • luật lệ / nguyên tắc

    • chân lý

    • giáo pháp

    • trật tự đúng đắn

    • Không nên hiểu Dharma = religion (tôn giáo) một cách hoàn toàn tương đương.

      Ví dụ trong tiếng Sanskrit:

      • Dharma (धर्म) → Pháp, nguyên lý, đạo, bổn phận, giáo pháp...

      • Adharma (अधर्म) → điều trái với Dharma, phi đạo lý, trái với trật tự đúng đắn.

      Có thể hình dung rất đơn giản:

      Dharma = “cái đúng với bản chất và trật tự đúng đắn của sự vật.”

      Vì thế, khi dịch धर्म → Pháp, chữ “Pháp” trong tiếng Việt có một phạm vi nghĩa rất rộng, chứ không chỉ là “luật pháp” như cách chúng ta thường hiểu chữ pháp ngày nay.


  • Wheel of Dharma - धर्मचक्र | Sanskrit quotes, Buddha quotes life, Mahabharata quotes
  • Dharma Sanskrit Calligraphy
  • Devanagari Script: Everything You Need To Know
  • Devanagari Alphabets Font Royalty-Free Images, Stock Photos & Pictures | Shutterstock

2) Phật Pháp — Buddha-dharma

  • Sanskrit: बुद्धधर्म

  • IAST: buddha-dharma

  • Trong Phật giáo, Dharma = Pháp (धर्म) có nhiều tầng nghĩa.

    Ví dụ:

    Phật pháp = những lời dạy của Đức Phật, con đường đưa đến giải thoát.

3) Pháp sư — Dharmācārya / Dharmācārin

  • Sanskrit: धर्माचार्य

  • IAST: dharmācārya

4) Tam bảo: Phật – Pháp – Tăng — Buddha–Dharma–Saṅgha

  • Sanskrit: बुद्धधर्मसंघ

  • IAST: buddha–dharma–saṅgha

  • Pháp cũng có thể chỉ quy luật vận hành của thực tại, chẳng hạn vô thường, duyên khởi, nhân quả.

    Do đó câu:

    “Phật, Pháp, Tăng”

    thì Pháp (Dharma) không đơn giản chỉ có nghĩa là “một bộ giáo lý”, mà bao gồm chân lý được Đức Phật chứng ngộ và con đường thực hành theo chân lý ấy.

Thuật ngữ tổng quát: Tam bảo — Triratna / Ratnatraya

  • Sanskrit: त्रिरत्न / रत्नत्रय

  • IAST: triratna / ratnatraya

  • The Three Jewels Of Buddhism And Multi-faith Affiliations | Justin Whitaker
  • Buddhist Channel | Arts & Culture
  • Sanskrit Alphabet Chart Pdf
  • Oldest Sanskrit Text

5) Giảng Pháp — Dharma-deśanā

  • Sanskrit: धर्मदेशना

  • IAST: dharma-deśanā

6) Thuyết Pháp — Dharma-pravacana

  • Sanskrit: धर्मप्रवचन

  • IAST: dharma-pravacana

7) Pháp giới — Dharmadhātu

  • Sanskrit: धर्मधातु

  • IAST: dharmadhātu

8) “Bông hoa là một pháp” — Puṣpaṃ ekaṃ dharmaḥ

  • Sanskrit: पुष्पम् एकं धर्मः

  • IAST: puṣpaṃ ekaṃ dharmaḥ

9) “Các pháp đều không” — Sarve dharmāḥ śūnyāḥ

  • Sanskrit: सर्वे धर्माः शून्याः

  • IAST: sarve dharmāḥ śūnyāḥ

Các pháp = tất cả những hiện tượng/sự vật hiện hữu mà ta có thể nhận biết.












Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

(Sưu tầm trên NET) XHCN LÀ DO TẦNG LỚP TINH HOA TẠO RA ĐỂ THAO TÚNG XÃ HỘI?

XHCN LÀ DO TẦNG LỚP TINH HOA TẠO RA ĐỂ THAO TÚNG XÃ HỘI ?

Trong các nghiên cứu lịch sử và chính trị tồn tại một quan điểm cho rằng sự hình thành của chủ nghĩa xã hội thế kỷ 19 không phải là sản phẩm tự phát của phong trào công nhân mà là một dự án do một nhóm tinh anh nghĩ ra để thao túng quần chúng. Các nghiên cứu theo hướng này dựa trên 4 luận điểm chính.

───

BỐN LUẬN ĐIỂM VỀ NGUỒN GỐC TINH ANH CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Luận điểm thứ nhất xuất phát từ xuất thân và khoảng cách tầng lớp của các nhà tư tưởng. Hầu hết những người sáng lập và định hình chủ nghĩa xã hội thế kỷ 19 không thuộc tầng lớp công nhân: Karl Marx xuất thân từ một gia đình luật sư khá giả thuộc tầng lớp thượng trung lưu ở Trier, bảo vệ luận án tiến sĩ về triết học Hy Lạp cổ đại tại Đại học Jena năm 1841 nhưng chưa từng giữ chức vụ giảng dạy đại học chính thức, Friedrich Engels là con trai của một chủ xưởng dệt giàu có, Henri de Saint-Simon xuất thân từ một dòng họ quý tộc lâu đời của Pháp, còn Robert Owen là một chủ nhà máy dệt thành đạt ở Anh; bản thân Marx và Engels tự phân biệt "chủ nghĩa xã hội khoa học" của mình với "chủ nghĩa xã hội không tưởng" của Saint-Simon, Owen và Fourier, nhưng nhóm nghiên cứu phê phán cho rằng tiêu chí xuất thân giai cấp áp dụng như nhau cho cả hai dòng này. Từ đó nhóm nghiên cứu phê phán cho rằng đây là hiện tượng "trí thức tiểu tư sản" hoặc giới tinh anh học thuật tự cho mình quyền nói thay và thiết kế tương lai cho giai cấp công nhân, biến nỗi đau thực tế của người lao động thành công cụ lý thuyết để kiến tạo một trật tự xã hội mới, trong đó chính nhóm trí thức này nắm vai trò định hướng.

Luận điểm thứ hai dựa trên lý thuyết về tầng lớp tinh anh, với các đại diện tiêu biểu là Vilfredo Pareto, Gaetano Mosca và Robert Michels, người đưa ra định luật sắt về chế độ đầu sỏ (Iron Law of Oligarchy) dựa trên nghiên cứu các đảng xã hội châu Âu đầu thế kỷ 20, cho rằng mọi tổ chức lớn tất yếu sinh ra một tầng lớp lãnh đạo chuyên nghiệp nắm quyền chi phối. Theo Pareto và Mosca, lịch sử nhân loại thực chất là sự thay thế tầng lớp tinh anh này bằng một tầng lớp tinh anh khác, gọi là sự tuần hoàn của giới tinh anh. Bản thân ba học giả này không viết trực tiếp về chủ nghĩa xã hội thế kỷ 19 như một dự án thao túng có chủ đích; việc gọi chủ nghĩa xã hội là một huyền thoại chính trị là cách nhóm nghiên cứu phê phán vận dụng mở rộng khung lý thuyết tinh anh của họ vào trường hợp này. Theo cách vận dụng đó, khi trật tự tư bản thế kỷ 19 bộc lộ nhiều bất cập, một bộ phận tinh anh mới gồm giới trí thức và các nhà tư tưởng cách mạng cần một phong trào quần chúng đủ mạnh để lật đổ tầng lớp thống trị cũ là giới tư bản và phong kiến, và chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ tư tưởng quyến rũ được dùng để huy động sức mạnh của số đông quần chúng lao động, khi phong trào thành công thì quyền lực không thực sự thuộc về quần chúng mà chuyển sang tay nhóm tinh anh lãnh đạo phong trào đó.

Luận điểm thứ ba xem chủ nghĩa xã hội không tưởng là một dự án kỹ thuật xã hội từ trên xuống. Saint-Simon từng đề xuất một xã hội công nghiệp được quản lý bởi các nhà khoa học, chuyên gia và nhà công nghiệp; thuật ngữ chế độ chuyên gia (Technocracy) chỉ xuất hiện muộn hơn, vào thế kỷ 20, và được các nhà nghiên cứu sau này gán ngược cho mô hình của Saint-Simon. Bản chất của các mô hình này, theo góc nhìn phân tích, là quy hoạch xã hội từ trên xuống, trong đó giới tinh anh coi quần chúng như những vật liệu cần được giáo dục, sắp xếp và quản lý để đạt đến một xã hội tối ưu, thay vì để quần chúng tự quyết định tiến trình của mình.

Luận điểm thứ tư đến từ chủ nghĩa tự do cá nhân và trường phái Áo, với các đại diện tiêu biểu là Friedrich Hayek, tác giả cuốn Đường về nô lệ (The Road to Serfdom), và Ludwig von Mises. Cốt lõi lập luận của Hayek là tri thức về nhu cầu, giá cả và điều kiện sản xuất trong một nền kinh tế luôn phân tán trong tay vô số cá nhân, nên không một nhóm quy hoạch trung ương nào có thể tập hợp đủ thông tin để thay thế cơ chế thị trường; từ đó ông cho rằng kế hoạch hóa tập trung và các ý tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ 19 xuất phát từ sự tự tin thái quá của giới trí thức, những người tin rằng trí tuệ của một nhóm nhỏ có thể thay thế cho cơ chế vận hành tự nhiên của thị trường và xã hội. Việc hứa hẹn một thiên đường bình đẳng, theo góc nhìn này, thực chất là phương tiện kiểm soát tư tưởng, thu hút quần chúng trao quyền lực tuyệt đối cho nhà nước hoặc nhóm quy hoạch trung ương.

Tổng hợp lại, góc nhìn phê phán thuộc trường phái tự do và lý thuyết tinh anh xem chủ nghĩa xã hội thế kỷ 19 là sản phẩm tư tưởng của giới trí thức tinh anh, sử dụng khát vọng bình đẳng của quần chúng làm động lực để tái cấu trúc quyền lực xã hội. Trong khi đó, góc nhìn lịch sử - xã hội chủ đạo lại cho rằng sự hình thành của chủ nghĩa xã hội thế kỷ 19 là phản ứng tự nhiên và tất yếu của phong trào công nhân trước áp bức và bất công của Cách mạng Công nghiệp, còn các nhà tư tưởng chỉ đóng vai trò hệ thống hóa và cung cấp lý luận cho những phong trào đấu tranh vốn đã bùng phát tự phát từ quần chúng.

───

NGHỊCH LÝ TÀI PHIỆT PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI ỦNG HỘ CÁNH TẢ

Một hiện tượng gây tranh cãi trong bức tranh chính trị hiện đại là việc giới tài phiệt và tinh anh phương Tây phần lớn lại ủng hộ cánh tả, tức là ủng hộ chính sách cào bằng và phân phối lại tài sản vốn về lý thuyết bất lợi cho chính họ. Nghịch lý này, khi soi qua lăng kính lý thuyết tinh anh, lại trở thành một minh chứng cho việc giới tinh anh đứng sau lợi dụng khẩu hiệu cào bằng để thao túng xã hội theo hướng có lợi cho họ, trong bối cảnh khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng.

Cơ chế thứ nhất là rào cản gia nhập thị trường thông qua quản lý chặt (regulatory capture). Các chính sách cánh tả hiện đại thường đi kèm quy định nghiêm ngặt về môi trường, tiêu chuẩn lao động, báo cáo ESG và thuế doanh nghiệp phức tạp. Các tập đoàn tài phiệt khổng lồ có đủ nguồn lực tài chính và pháp lý để tuân thủ, trong khi doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn là đối thủ cạnh tranh tiềm năng, bị đè bẹp bởi chi phí tuân thủ, khiến sự bình đẳng trên danh nghĩa trở thành công cụ tiêu diệt cạnh tranh tự do và giúp các tập đoàn lớn củng cố vị thế độc quyền.

Cơ chế thứ hai nằm ở cách đánh thuế và chính sách tiền tệ. Giới tài phiệt phương Tây không giàu lên chủ yếu nhờ lương mà nhờ sở hữu tài sản như cổ phiếu và bất động sản. Các chính sách cánh tả thường đánh thuế mạnh vào thu nhập cao trong khi áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ, in tiền và trợ cấp; việc in tiền và hạ lãi suất để chi tiêu công lại đẩy giá tài sản tăng vọt, khiến người lao động hưởng trợ cấp nhỏ lẻ nhưng bị lạm phát bào mòn tiền tiết kiệm, trong khi tài sản của tầng lớp siêu giàu gia tăng nhanh chóng.

Cơ chế thứ ba là điều báo chí gọi là chủ nghĩa tư bản đố kỵ (Woke Capitalism), một thuật ngữ mang tính báo chí hơn là một khái niệm học thuật đã được chuẩn hóa. Các tập đoàn lớn tích cực ủng hộ những chương trình nghị sự cánh tả về đa dạng, bình đẳng và văn hóa woke; việc nhượng bộ và cổ xúy các giá trị bình đẳng về mặt xã hội và văn hóa giúp giới tinh anh.

Các tập đoàn lớn tích cực ủng hộ những chương trình nghị sự cánh tả về đa dạng, bình đẳng và văn hóa woke; việc nhượng bộ và cổ xúy các giá trị bình đẳng về mặt xã hội và văn hóa giúp giới tinh anh xoa dịu sự bất mãn của quần chúng, đồng thời hướng sự chú ý của công chúng ra khỏi các vấn đề bất bình đẳng kinh tế thực sự. Theo cách đọc này, thực tế hiện nay minh họa rất rõ cho việc vận dụng khung lý thuyết tinh anh của Pareto và Michels vào bối cảnh hiện đại: nhóm tinh anh luôn biết cách sử dụng khẩu hiệu bình đẳng như một công cụ tái cấu trúc quyền lực và tài sản có lợi cho chính họ.

───

GÓC NHÌN ĐỐI LẬP

Các nhà phân tích theo trường phái lịch sử - xã hội chủ đạo, hoặc kinh tế chính trị Mác-xít, giải thích cùng hiện tượng này theo một logic khác. Giới tư bản ủng hộ một số chính sách cánh tả như an sinh xã hội, y tế toàn dân hay trợ cấp không phải vì họ ưa thích cào bằng, mà vì đó là chi phí bảo hiểm để tránh sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống tư bản; nếu không xoa dịu quần chúng bằng các chính sách trợ cấp, nguy cơ bạo động hoặc cách mạng sẽ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chính họ.

Theo hướng giải thích này, việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo không phải do lý thuyết bình đẳng bị áp dụng sai, mà là do bản chất tích tụ tư bản tự nhiên của thị trường tự do khi thiếu kiểm soát hiệu quả, đặc trưng của giai đoạn chủ nghĩa tư bản muộn. Việc giới tài phiệt ủng hộ cánh tả, trong cách nhìn này, chỉ là hành vi tẩy rửa hình ảnh chứ không làm thay đổi bản chất bóc tách giá trị thặng dư vốn có của hệ thống.

───

ĐỒNG NHẤT VỀ KẾT QUẢ: Ý THỨC HỆ NHƯ CÔNG CỤ CỦA QUYỀN LỰC

Dù giới tinh hoa được mô tả là ủng hộ góc nhìn lịch sử - xã hội vì trách nhiệm xã hội, theo ngôn từ cánh tả, hay bị lý thuyết tinh anh tố cáo là thao túng, theo ngôn từ cánh hữu, kết quả thực tế trên thực địa không thay đổi: tài sản và quyền lực tiếp tục tích tụ vào tay nhóm 1% hoặc 0,1% ở thượng tầng, tầng lớp trung lưu bị thu hẹp trong khi tầng lớp phụ thuộc vào trợ cấp và cơ chế nhà nước ngày càng phình to, và khoảng cách giàu nghèo vẫn gia tăng bất chấp việc các chính sách bình đẳng được ban hành liên tục.

Trong lý thuyết về quyền lực, các hệ tư tưởng, dù là Mác-xít, hậu Mác-xít, tân tự do hay bảo thủ, đóng vai trò là huyền thoại chính trị theo hai chức năng. Chức năng thứ nhất là chính danh hóa: nhóm tinh hoa cần một lý do có vẻ đạo đức để giải thích tại sao họ nắm giữ tài sản và có quyền quyết định luật chơi. Chức năng thứ hai là huy động quần chúng: quần chúng sẽ không chiến đấu hay bỏ phiếu cho lợi ích của một tài phiệt, nhưng sẵn sàng làm điều đó nếu tin rằng mình đang chiến đấu cho sự bình đẳng, công lý xã hội hay tự do.

Cuộc tranh luận giữa hai cách giải thích, thỏa hiệp để sống sót hay thao túng để độc quyền, vì vậy thực chất là cuộc chiến ngôn từ giữa hai phe. Phe cánh tả và tân Mác-xít cần mô tả hành động của tinh hoa là sự thỏa hiệp tất yếu trước sức mạnh công nhân để giữ vững tính đúng đắn lịch sử cho lý thuyết của mình, rằng quần chúng mới là động lực lịch sử. Phe cánh hữu và lý thuyết tinh anh cần mô tả đó là sự thao túng tinh vi để chứng minh rằng mọi nỗ lực cào bằng do nhà nước can thiệp đều dẫn đến độc quyền và áp bức mới. Cách nhìn này tiệm cận quan điểm của chủ nghĩa thực dụng chính trị (Political Realism): lợi ích là động cơ, tư tưởng chỉ là phương tiện, và việc giới tinh hoa ủng hộ xu hướng cào bằng hay can thiệp nhà nước không xuất phát từ sự trong sáng hay ngây thơ, mà vì mô hình đó mang lại cho họ chi phí quản trị xã hội thấp nhất và lợi nhuận củng cố vị thế cao nhất trong giai đoạn hiện đại.

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Lực lượng quân đội riêng về con người Nam Hàn vs Nước Nam

Làm một so sánh riêng về lĩnh vực nhân lực quốc phòng

Nước Nam

Nam Hàn

1) Nước Nam đã thống nhất.

1) Nam Hàn và Bắc Hàn vẫn là 2 nước riêng biệt.

2) Thời 1950: Bắc Xã Nghĩa đánh Nam Cộng Hòa

2) Kí hiệp định hòa bình: Không xâm lược lẫn nhau. Nam Hàn xây dựng chế độ quân dịch toàn quân.

3) Trước 1975: Nam Cộng Hòa giàu có hơn Nam Hàn, giàu có hơn Singapore

3) Thu nhập bình quân đầu người của Nam Hàn cho đến 1980 vẫn thấp hơn của Nước Nam

4) Chế độ quân dịch của Nước Nam từ sau 1975:

Nhập ngũ ít.

Thời gian nghĩa vụ là 18~24 tháng.

Huấn luyện kém cỏi, chủ yếu là tập đi bộ một hai, một hai.

Thời nay các cháu sinh viên đi tập quân sự còn đưa khiêu vũ vào huấn luyện - nhảm nhí, xàm xí.

Hết 24 tháng nghĩa vụ, giải ngũ về quê là xong.

4) Chế độ quân dịch của Nam Hàn từ 1950 đến nay:

Nghĩa vụ quân sự:

Tất cả Nam giới từ 18~28 tuổi: bắt buộc

Phụ nữ: không bắt buộc, chỉ tự nguyện

Thời gian huấn luyện thực chiến: 18~21 tháng.

Sau khi xuất ngũ:

8 năm dự bị

Mỗi năm phải tái huấn luyện 1~3 ngày

Sau đó chuyển sang dân quân tự vệ đến năm 40 tuổi.

5) Lực lượng dự bị: Tất cả những người đã từng nhập ngũ, chỉ có huấn luyện 18~24 tháng. Sau nhiều năm không huấn luyện thì có còn gì?

5) Lực lượng dự bị: Tất cả đàn ông đều từng nhập ngũ, đều được huấn luyện liên tục 12 năm.

6) Dân số hiện tại: 100 triệu

6) Dân số hiện tại: 51 triệu

7) Đàn ông: 50 triệu

7) Đàn ông: 25.5 triệu

8) Quân chính quy chuyên nghiệp: 482.000

8) Quân chính quy chuyên nghiệp: 555.000

9) Quân dự bị có thể huy động khi cần: 5 triệu trên danh sách. Nhưng không được huấn luyện sau khi giải ngũ.

9) Quân dự bị có thể huy động khi cần: 3.1 triệu từ độ tuổi 20 đến 40, có thể huy động nhanh trong vòng 24~72 giờ. Lực lượng này được huấn luyện liên tục trong 8 năm.

10) quân dự bị có thể huy động thêm là đàn ông từ 40 đến 50 tuổi:

Nước Nam có thể huy động thêm khoảng 3~4 triệu đàn ông 40~50 tuổi, nhưng phần lớn chưa từng đi nghĩa vụ, hoặc đã quên kỹ năng quân sự.

10) quân dự bị có thể huy động thêm là đàn ông từ 40 đến 50 tuổi:

Nam Hàn có thể huy động thêm 1.4~1.8 triệu đàn ông 40~50 tuổi, tất cả đều đã từng đi nghĩa vụ quân sự.

11) Tổng:

Chính quy: 482.000

Dự bị: 5 triệu

Thêm: 3~4 triệu đàn ông 40~50 tuổi

11) Tổng:

Chính quy: 555.000

Dự bị: 3.1 triệu

Thêm: 1.4~1.8 triệu đàn ông 40~50 tuổi

Chỉ xét riêng yếu tố nhân lực quân sự:

Nước Nam thuộc nhóm TOP 15~20 thế giới về nhân lực quân sự, nhưng chủ yếu là số lượng, không phải chất lượng.

Chỉ xét riêng yếu tố nhân lực quân sự:

Nam Hàn thuộc TOP 5 thế giới.