Tiêu đề "Trụ mà không trụ" là của chương kết luận của cuốn sách "Chính Đề Việt Nam".
Link: Chính đề Việt Nam - Phong Trào Duy Tân
Mượn lời của người viết bài giới thiệu là ông Nguyễn Huy Vũ:
[trích] Đó cũng là tư tưởng chính trị mà chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà đang bắt đầu triển khai, mà nếu không có cuộc đảo chính, giờ này có lẽ sự thịnh vượng của miền Nam Việt Nam không cách xa những nước thịnh vượng nhất ở châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, hay Singapore, bao nhiêu. [/trích]
Quả thật, nếu các nhà lãnh đạo thời nay (2026) mà đọc và áp dụng phương pháp của "Chính Đề Việt Nam" thì có lẽ dân ta không phải đi tha hương cầu thực quá nhiều.
Than ôi!... Tiếc là lãnh đạo của cộng sản, từ 1930 đến nay, thì luôn đề cao quyền lực độc tôn hơn quyền lợi dân tộc.
TRỤ MÀ KHÔNG
TRỤ
Phật dạy “TRỤ
MÀ KHÔNG TRỤ”. Thâm ý cao siêu của lời dạy trên bao trùm khắp vũ trụ. Sự tiến
hóa của nhân loại đều căn cứ trên nguyên tắc nằm trong lời dạy trên.
Có trụ mới
có vị trí để mà tiến. Nhưng khi vị trí đã mất tác dụng, mà vẫn cứ cố bám để trụ
vào đó thì mọi tiến hóa lại chấm dứt, và những kết quả đã thu hoạch được lại có
thể bị mất.
Phải trụ vào
cho đúng lúc mới tiến được. Và phải không trụ vào cho đúng lúc mới bảo đảm được
vừa những thắng lợi đã chiếm, vừa con đường tiến cho tương lai.
TRỤ MÀ KHÔNG
TRỤ là một chân lý thể hiện trong những sự việc vĩ đại của loài người, cũng như
trong các sự việc nhỏ nhặt của cá nhân trong đời sống thường ngày.
Nhiều cộng đồng
đã phôi thai được một nền văn minh vì nhờ trong một lúc nào đó, các nhà lãnh đạo
đã ý thức được một cách sung mãn những vị trí cần phải trụ vào. Nhưng sau đó hoặc
vì sự thiếu lãnh đạo, hoặc vì thử thách, do hoàn cảnh bên ngoài đưa đến, vượt
qua mức độ mà sinh lực của cộng đồng có thể ứng phó nổi, nên cộng đồng vẫn tiếp
tục trụ vào một vị trí không còn là sinh lộ nữa. Do đó, nền văn minh vừa mới
phôi thai, đã ngừng phát triển và lâu ngày thành cằn cỗi và chết dần như cây
khô.
Các dân tộc
Da Đỏ ở Bắc Mỹ đã phôi thai một nền văn minh trụ vào sự thích nghi hóa đời sống
thường ngày với vũ trụ thiên nhiên bao quanh mình. Ví dụ, thay vì tìm cách chế
áo dầy hoặc cách xây nhà cửa giữ được sức nóng để chống lại với giá lạnh của
mùa Đông, người Da Đỏ lại chủ trương huấn luyện cơ thể từ lúc nhỏ để chịu đựng
được các thời tiết.
Thái độ của
người Da Đỏ là một thái độ tùng phục, cố gắng thích nghi hóa cơ thể với vũ trụ
thiên nhiên. Thái độ mặc áo và xây nhà là một thái độ dùng phương tiện thiên
nhiên để chế ngự thiên nhiên.
Vì đã lựa chọn
con đường như vậy cho nên nền văn minh phôi thai của người Da Đỏ đã đào tạo được
một loại người mà sức chịu đựng đối với thiên nhiên lên đến một mức độ phi thường.
Và sự thông cảm của họ với thiên nhiên vượt đến một trình độ ít có.
Trên lĩnh vực
này, người Da Đỏ đã khiến tất cả mọi người đều thán phục. Và người mà ông Baden
Powell, nhà sáng lập ra phong trào hướng đạo thế giới, lấy làm mẫu là người Da
Đỏ.
Tuy nhiên, sức
chịu đựng của con người có giới hạn, sức mạnh của thiên nhiên lại vô bờ bến. Tự
trụ mình vào công cuộc phi thường rèn luyện cơ thể để chống lại với thiên
nhiên, người Da Đỏ đã dấn thân vào một con đường không có lối thoát. Các nhà
lãnh đạo Da Đỏ không nhìn thấy sự bế tắc đó nên không lúc nào nghĩ cần phải chấm
dứt sự trụ vào đó. Vì vậy cho nên, vừa mới phôi thai, nền văn minh Da Đỏ đã
ngưng phát triển và lần lần cằn cỗi.
Theo những
tài liệu khảo cổ mà chúng ta được biết tới ngày nay thì các dân tộc ở chung
quanh Bắc cực và các dân tộc ở trên các quần đảo ở Thái Bình Dương đều lâm vào
một tình trạng tương tự. Tự trụ vào công cuộc mang sức chịu đựng của con người
để chống lại thiên nhiên. Lúc đầu khi trụ vào vị trí đó, cộng đồng phôi thai được
một nền văn minh. Nhưng khi vị trí không còn thích nghi nữa, cộng đồng không biết
thoát ra đúng lúc. Lỗi lầm đó đã đưa cộng đồng đến chỗ chết.
Ví dụ dưới đậy
lại còn rõ rệt hơn nữa.
Luân lý Khổng
Mạnh đã tạo cho cộng đồng dân tộc Trung Hoa, một trật tự xã hội bền vững với thời
gian, một cách chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Suốt trong mấy ngàn năm,
trật tự xã hội kiên cố, do luân lý Khổng Mạnh tạo nên, không có cuộc chấn động
nào lay chuyển nổi. Nhờ trật tự xã hội vô cùng vững chắc đó, văn minh Trung Hoa
phát triển đến tột độ và soi sáng khắp cả một bầu trời. Các triều đại Trung
Hoa, kể cả các triều đại Hán tộc và các triều đại ngoại lai, Mông Cổ và Mãn
Thanh, đều bị chinh phục bởi sức kiên cố của trật tự xã hội của Khổng Mạnh. Các
nhà lãnh đạo đều trụ vào đó và gia công xây đắp cho trật tự Khổng Mạnh càng
thêm vững chắc.
Vì vậy mà
cho đến khi nền văn minh Trung Hoa, vì quá trụ vào trật tự xã hội Khổng Mạnh,
nên sinh lực phát triển đã suy đi, không một nhà lãnh đạo nào nhìn thấy. Mài miệt
trong sự thán phục một trật tự xã hội đã cằn cỗi và thành đá, không một nhà
lãnh đạo nào nhìn thấy nền văn minh Trung Hoa đã ngưng phát triển. Nếu không bị
sự tấn công của Tây phương, có lẽ đến ngày nay, Trung Hoa còn ngon giấc triền
miên trong cái trật tự xã hội Khổng Mạnh của mình. Trụ vào trật tự xã hội Khổng
Mạnh để phát triển nền văn minh. Nhưng chính cũng vì trụ vào đó quá mức độ thời
gian, nên văn minh đã ngưng phát triển.
Thâm ý của lởi
Phật dạy “Trụ mà không trụ” là bao quát như vậy đó.
Nhưng trong
đời sống của cá nhân, lời dạy “trụ mà không trụ” cũng chi phối sâu xa đến các
hành vi thông thường.
Trong sách
Gia Ngữ có chép lại đại khái như sau:
Thầy Tử Hạ một
hôm hỏi Đức Khổng Tử: “Đức Khổng Tử sánh với những người học trò như Nhan Hồi,
Tử Cống và Tử Lộ thì sao?”
Đức Khổng Tử
trả lời: “Nhan Hồi thủ tín hơn ta. Tử Cống thuyết khách hơn ta. Tử Lộ chiến trận
hơn ta.”
Thầy Tử Hạ lại
hỏi: “Thế vì sao Nhan Hồi, Tử Cống và Tử Lộ lại tôn Đức Khổng Tử làm thầy?”
Đức Khổng Tử
trả lời: “Vì Nhan Hồi thủ tín mà không biết phản tín. Tử Cống hay biện thuyết
mà bất cập tảo biện. Tử Lộ biết dũng mà không biết khiếp, biết cương mà không
biết nhu.”
Thầy Nhan Hồi
biết trụ vào chữ tín mà không biết không trụ vào chữ tín.
Thầy Tử Cống
biết trụ vào biện thuyết mà không biết không trụ vào biện thuyết.
Thầy Tử Lộ
biết trụ vào dũng mà không biết không trụ vào dũng.
Đức Khổng Tử
vượt lên trên hết tất cả vì trong mọi trường hợp, ngài biết trụ vào đúng lúc và
biết không trụ vào đúng lúc.
Phải biết trụ
để có vị trí phát triển, nhưng phải biết không trụ để bảo đảm cho phát triển tiếp
tục.
Sự phát triển
của văn minh Tây phương đến mức độ bao trùm khắp nhân loại và khắp các lĩnh vực
của đời sống, như chúng ta mục kích ngày nay, là một sự kiện chưa tìm có trong
lịch sử nhân loại. Sinh lực đó bắt nguồn từ chỗ người Tây phương đã thấu triệt
nguyên tắc “Trụ mà không trụ” và đã đưa nó lên thành một lợi khí khoa học và sắc
bén để tìm hiểu vũ trụ. Trong bất cứ ngành nào của kỹ thuật Tây phương, lịch sử
phát triển của ngành đó đều mang dấu vết của nguyên tắc “Trụ mà không trụ”. Ví
dụ dưới đây là thông thường nhất.
Khi quang học
mới phôi thai, tất cả các nhà vật lý học Tây phương lúc bấy giờ, Descartes,
Fermat, Malus, Huygens đều trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng”
để khảo sát, thí nghiệm và tìm ra những định luật của quang học hình học. Quang
học hình học, như chúng ta đã biết, là những bậc thang đầu tiên và vô cùng quan
trọng của quang học.
Nhưng, những
thế hệ các nhà vật lý học sau đó, mục kích nhiều hiện tượng quang học mà thuyết
“ánh sáng phát quang theo đường thẳng” không làm sao giải thích được. Fresnel,
Young và Newton, mặc dầu vẫn công nhận sự nghiệp di sản của quang học hình học,
đã nhìn thấy đúng lúc giới hạn của thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng”
và nhận thức đã đến lúc không nên trụ vào đó nữa.
Nếu không trụ
vào đó nữa, tất nhiên phải trụ vào một vị trí khác để tiếp tục phát triển Quang
học. Do đó, thế hệ các nhà quang học này trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang
theo làn sóng” để khảo cứu thí nghiệm và cuối cùng phát minh những định luật mới
về quang học vừa bao quát, vừa phong phú hơn. Tất cả sự nghiệp quang học ba động
đều xây dựng trên thuyết mới này (Note
by HNN: "ba" là sóng, như chữ "phong ba", vậy "ba động"
là "sóng động").
Giả sử thế hệ
các nhà vật lý học đầu tiên không trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo đường
thẳng” thì sự nghiệp quang học hình học không bao giờ thành hình, và những bậc
thang đầu tiên đó của ngành quang học, không bao giờ được xây dựng lên và sự
phát triển của quang học không được manh nha.
Nhờ những bậc
thang đầu tiên đó, thế hệ các nhà vật lý học sau mới vói tay lên được đến các
hiện tượng lạ lùng đối với thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng”.
Nhưng, giả sử
các nhà vật lý học của thế hệ này không đập phá được sự trụ vào thuyết “đường
thẳng” thì sự phát triển của quang học đã ngừng ở đó và lâu ngày sẽ cằn cỗi mà
chết dần. Nhưng trong thực tế, họ đã biết không trụ đúng lúc nên đã bảo đảm được
sự tiếp tục phát triển của quang học.
Đến giai đoạn
này, lịch sử phát triển của quang học cũng đủ để thuyết minh cho tính cách sắc
bén của nguyên tắc “Trụ mà không trụ”, trong mọi lĩnh vực phát triển. Nhưng,
quang học còn phát triển hơn nữa. Và thành tích phát triển gần đây của quang học,
lại chỉ rõ hơn nữa rằng, văn minh Tây phương đã khoa học hóa và chính xác hóa
nguyên tắc “Trụ mà không trụ” để biến nó thành một kỹ thuật vô cùng hiệu quả để
phát triển.
Sau thế hệ
các nhà quang học ba động, một thế hệ vật lý học giả khác lại phát minh ra nhiều
hiện tượng vật lý, mà thuyết “ánh sáng phát quang theo làn sóng” cũng không thể
giải thích được. Cũng như lần trước, các nhà quang học chấm dứt đúng lúc sự trụ
vào quang học ba động. Nhưng lần này, các nhà quang học đã xem việc không nên
trụ vào quang học ba động, như là một phương pháp phát minh. Thế hệ của De
Broglie lại trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang thành ly tử di chuyển theo làn
sóng” để khảo sát, thí nghiệm và phát minh nhiều định luật về quang học bao
quát hơn thêm và phong phú hơn thêm. (Note
by HNN: "ly tử" là hạt rời rạc. Thuyết này cho rằng: Ánh sáng là các hạt
rời rạc nối nhau liên tiếp). Tất cả sự nghiệp quang học xạ tử ba động đều
xây dựng trên thuyết mới này.
Và những
phát minh tối tân nhất hiện nay về các quang tuyến đều căn cứ trên sự nghiệp
quang học xạ tử ba động. Nhưng sự nghiệp xạ tử ba động sẽ không bao giờ có, nếu
sự nghiệp quang học ba động không thành hình. Và sự nghiệp ba động không bao giờ
có nếu sự nghiệp quang học hình học không thành hình. Nhờ trụ mà có quang học
hình học. Rồi nhờ không trụ mà có quang học phát triển. Rồi nhờ trụ mà quang học
ba động thành hình. Rồi nhờ không trụ mà quang học ba động phát triển. Rồi nhờ
trụ mà quang học xạ tử ba động thành hình.
Chúng ta có
thể đoán rằng, cơ thức “Trụ mà không trụ” sẽ theo đó mà tiếp tục diễn tiến, và
vạch con đường cho sự phát triển không ngừng của quang học.
Những sự kiện
trên có giá trị, không phải riêng cho lĩnh vực khoa học mà cho tất cả các ngành
của khoa học Tây phương, nghĩa là cho tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong
đó có lĩnh vực chính trị như chúng ta sẽ thấy dưới đây.
Tóm lại “Trụ
mà không trụ” là một chân lý phát triển. Một điều đáng cho chúng ta nêu lên làm
một câu hỏi, là chính Đông Phương đã tìm ra chân lý trên, nhưng vì sao văn minh
Đông Phương, Ấn Độ, cũng như Trung Hoa, lại trụ vào một vị trí cố định từ mấy
ngàn năm? Những trả lời câu hỏi này vượt ra rất xa khuôn khổ của lời kết luận
này.
Trở lại vấn
đề chính trị của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hiện tại, chúng ta nhận
thấy các điểm sau đây:
Trong tình
hình chính trị thế giới hiện nay và trong trình độ tiến hóa của nhân loại hiện
nay, các vấn đề của dân tộc Việt Nam, trong thời kỳ này chỉ có thể tìm được một
giải đáp nếu chúng ta trụ vào vị trí dân tộc.
Đương nhiên
là vị trí dân tộc mà chúng ta đã quan niệm không thể là một vị trí dân tộc bế
quan tỏa cảng, hẹp và nông như dưới các triều đại quân chủ xưa kia. Vị trí dân
tộc mà chúng ta quan niệm là một vị trí dân tộc nằm trong khung cảnh thế giới,
với tất cả các dây liên hệ tinh thần và vật chất cần phải có.
Nhưng vị trí
trụ vào phải là vị trí dân tộc.
Đến lúc nào
chúng ta cần phải chấm dứt sự trụ đóng vị trí dân tộc nói đây để bảo đảm cho sự
phát triển tương lai của dân tộc, đúng theo nguyên tắc “TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ”?
Chắc chắn
trong thời kỳ này của cộng đồng dân tộc, chưa có sự chấm dứt nói đây. Thời kỳ
này gồm nhiều thế hệ sắp đến. Chúng ta phải tin tưởng vào sự sáng suốt của các
nhà lãnh đạo sau này, để quyết định đúng lúc sự thôi không trụ vào vị trí hiện
tại.
Các nhà lãnh
đạo Cộng Sản ở miền Bắc đã trụ vào lý thuyết Cộng Sản trong thời kỳ tranh giành
độc lập. Chúng ta đã thấy sự đi đúng đường một phần nào của họ trong một giai
đoạn. Nhưng chúng ta cũng đã phân tích các lý do vì sao sự tiếp tục trụ đóng
vào phương tiện Cộng Sản hiện nay, là một lối bế tắc cho sự nghiệp tiến hóa của
dân tộc. Chẳng những như chúng ta đã phân tích, sự tiếp tục trụ đóng vào lý
thuyết Cộng Sản sẽ không làm sao giải quyết được công cuộc phát triển cho dân tộc,
mà lại còn mở cửa đưa các thế hệ sau này, vào một đời sống vô cùng đen tối
không lối thoát.
Do đó, tự đặt
mình vào vòng ảnh hưởng của Cộng Sản, các nhà lãnh đạo Bắc Việt tự mình đã từ bỏ
công cuộc phát triển cho dân tộc.
Hơn nữa, sự
phát triển của một khối người gần 800 triệu dân như của Trung Cộng, là một mối
đe dọa cho toàn thế giới. Và vì vậy công cuộc tìm phát triển của Trung Cộng tự
nó, dù mà Trung Cộng không có gây hấn với ai cả, cũng gây nhiều kẻ thù. Những
người này nhất định sẽ cản trở không để cho Trung Cộng phát triển.
Các biến cố
chính trị gần đây đều xác nhận sự phân tích trên. Nay nếu chúng ta gắn liền số
mạng của dân tộc Việt Nam vào với số mạng của Trung Cộng thì hành động đó có
nghĩa là chúng ta sẽ từ bỏ công cuộc phát triển đang cần thiết cho sự sống còn
của dân tộc.
Trung Cộng
giải quyết không được công cuộc phát triển của dân tộc Trung Hoa. Nhưng số người
800 triệu dân cần phải nuôi, là một thực tế không thể phủ nhận được. Sự bành
trướng mà Trung Cộng bắt buộc phải thực hiện dưới áp lực nhân khẩu kinh khủng
đó đã mở màn. Nếu chúng ta không thức tỉnh thì một trong những nạn nhân đầu
tiên của sự bành trướng nói trên sẽ là chúng ta. Chỉ tưởng tượng đến viễn cảnh
đó cũng đủ cho chúng ta khủng khiếp.
Vì vậy cho
nên, công cuộc chống sự xâm lăng của miền Bắc, không lúc nào khẩn thiết cho cộng
đồng dân tộc Việt Nam bằng trong lúc này.
Và vì vậy
cho nên, chúng ta thành khẩn mong mỏi các nhà lãnh đạo miền Bắc, kịp thời nhận
định đã đến lúc, vì sự tiến hóa của dân tộc, không còn nên tiếp tục sự trụ đóng
vào phương tiện Cộng Sản nữa.
Chính Đề Việt Nam – Tùng Phong (Ngô Đình Nhu), phần “Trụ mà không trụ”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét