Sơn Chà và lịch sử Miền Trung
Trương Nhân Việt
Trước 1975 ở Đà Nẵng người ta gọi Sơn Chà như hình chiếc xe đò, xe chạy từ vùng bên bán đảo Sơn Chà vô nội thành Đà Nẵng.
Bằng chứng và nhân chứng còn ghi.
Một tấm bản dồ thời Pháp in Đà Nẵng khi đó có tên là Tourane, nhìn trên tấm bản đồ in khúc bán đảo có chữ Tien-Cha là địa danh ghép Tiên Sa phía tây và Sơn Chà phía đông.
Trước 75 công văn hành chánh thời Việt Nam Cộng Hoà, địa danh là bán đảo Sơn Chà. Nha Tiên Cảng nằm trong bán đảo Sơn Chà.
Sơn Chà chứ không phải Sơn Trà, trên bán đảo Sơn Chà không hề có một cây trà nào.
Ở vùng này, tên Chà là chánh thống, bán đảo Sơn Chà và Hòn Sơn Chà (Hòn Chảo) là một đảo nhỏ ngoài biển giữa Đà Nẵng và Huế.
Chữ chà là chữ Nôm, là chữ thuần Việt, nhưng thời xưa khi viết lên hành chánh các ông quan không tìm ra chữ Hán Việt thế nó được nên viết thành trà.
Bán đảo Sơn Chà bị viết thành Sơn Trà 山茶, chữ trà 茶 chỉ là chữ mượn âm Hán Việt thế chữ chà mà thôi.
Sơn Chà ở Đà Nẵng có thể có hai nghĩa, là cây sơn chà hoặc từ gốc một chữ Chàm nào đó mà ra.
Ở Miền Trung có rất nhiều địa danh gốc Chàm không thể dịch hoặc viết thẳng sang âm Hán Việt một cách chính xác.
Thí dụ Kauthara (Nha Trang) được phiên âm Hán Việt thành Hà Ra hoặc Hà La không chính xác.
Rồi La Gi, Đề Gi, Phan Rang, Phan Rí, Cà Ná, Cà Ty... cũng không phiên âm ra Hán Việt đặng.
Địa danh Đà Nẵng cũng từ tiếng Chàm và không phiên âm ra Hán Việt được.
Chữ "chà" có trong tiếng Việt cổ cũng có dính dáng tiếng Chàm.
Tên kinh đô Vijaya của vương quốc Chàm cổ ở Bình Định có tên là thành Chà Bàn, rồi Đồ Bàn, rồi từ từ thành Trà Bàn.
Chà Bàn là một cách ghi âm của Vijaya đã bị chữ nghĩa Hán Việt biến thành Trà Bàn.
Học giả Hoàng Xuân Hãn khẳng định Đồ Bàn là chép lầm của Chà Bàn.
“Thành Phật Thệ, kinh đô Chiêm Thành thời bấy giờ, ở vào địa phận tỉnh Bình Định ngày nay. Tên Chàm là Vijaya; sau có tên Chà Bàn, ta thường chép lầm ra Đồ Bàn”.
Từ Chà Bàn còn chép thành Trà Bàn.
Miền Trung có nhiều xứ tên Trà như Trà Bồng, Trà My, Trà Kiệu...thì cái chữ Trà chỉ do âm Hán Việt viết ra thôi, chữ gốc là Chà.
Không dám khẳng định địa danh Trà ở Miền Trung phần lớn viết từ Chà mà qua, nhưng hình như có một phần nhiều là vậy, ngoại trừ một số ít.
Tên ba con sông lớn ở Quảng Ngãi là Trà Khúc, Trà Bồng, Trà Câu đều có gốc tiếng Chàm. Trà (Chà) trong tên ba con sông trên bắt nguồn từ tiếng Chàm Ia, nghĩa là sông, nước.
Trà Khúc là do tên Trà Giang Cửu Khúc (sông Trà có 9 khúc) nói rút gọn, Trà Bồng do sông này bắt nguồn từ làng Thanh Bồng, còn Trà Câu là vì sông ngắn so với hai sông kia, nên ghép từ Câu 沟 có nghĩa lạch, khe, rãnh nước vào sau từ Trà.
Đại Nam nhứt thống chí, tỉnh Quảng Nam, mục viết về núi Xuân Thiều có ghi dòng chữ “cổ tháp Trà Vương di tích”.
Ở gần Cà Ná Ninh Thuận có núi Chà Bang mà người Việt gọi Tam Sơn. Chà Bang tiếng Chàm Cabang nghĩa là núi chẻ, chà này không liên quan Vijaya.
Trà (Chà) Co ở Ninh Thuận, Trà Co gốc Chàm Cako (Chà Co) nghĩa là móng tay, chưn.
Chà là từ chữ Chàm. Sách sử triều đình phiên âm thành Trà. Thành ra có Chà Bàn mà vẫn có Trà Bàn.
Ngay họ các vua Chàm cũng có họ Trà. Chà (Trà) là từ chữ Vijaya mà ra. Có vua Trà Toàn, Trà Hòa Bố Đế... Sử Việt ghi bốn họ của vua Chàm là Ông, Ma, Trà, Chế.
Trở lại với Sơn Chà của Đà Nẵng có thể là từ chữ Chàm, nhưng rất có lý khi nó mang tên một loài cây bổn địa là cây sơn chà.
Có bản đồ ghi Sơn Trà, nhưng có nhiều bản đồ ghi là Sơn Chà.
Sơn Chà là đúng nhứt vì cái tên Sơn Chà trên xe đò trước 1975 minh chúng do sự lựa chọn đúng nhưt của dân Đà Nẵng.
Sơn Chà ở Đà Nẵng là nạn nhân của vấn nạn "chuẩn Bắc" sau 1975. Sau 1975 Sơn Chà bị triệt tiêu.
Sau 1975 biến thành Sơn Trà, Ngày nay có quận Sơn Trà và giờ là phường Sơn Trà.
Chữ chà khác chữ trà. Người chuẩn Bắc không phân biệt được chà và trà.
Ở Miền Trung bị biến âm nhiều lắm sau 1975.
Trước 1975 có quận Thường Đức của Đà Nẵng, sau 1975 giờ thành xã Thượng Đức. Thường Đức có nghĩa là đạo đức không thay đổi, còn chữ Thượng Đức thì qua nghĩa khác.
Thường Đức ở phía Tây Nam Đà Nẵng khoảng 50 cây số, nơi đây có một căn cứ của quân lực Việt Nam Cộng Hoà và Huê Kỳ. Trận đánh Thường Đức (29/7/1974 – 11/11/1974) rõ ràng, nhưng sau 1975 thành "trận Thượng Đức" mới ghê! "Đánh" luôn địa danh và Tiếng Việt ha?
Trước 1975 ở Hội An có Cửa Đợi, sau 1975 bỗng dưng thành Cửa Đại.
Có rất nhiều chữ bị rau muống mắm tôm biến hóa .
Qui Nhơn thay thành Quy Nhơn. Rồi Darlac thành Daklak, cái chữ K vốn vô dụng. Cầu Trường Tiền ở Huế có lúc bị thay đổi thành Tràng Tiền kiểu Hà Nội, bị chửi riết đối lại Trường Tiền.
Còn Miền Nam thì đổi vô tội vạ, Tân Sơn Nhứt bị biến thành Tân Sơn Nhất, Cầu Gành thành Cầu Ghềnh, kinh thành kênh, rạch bị biến thành kênh...
Ghi chú bởi HNN:
Chữ 茶 trong phiên âm tiếng Nhật đọc là "cha", như mat-cha 抹茶 = mạt chà.
Trong tiếng Hoa Ngữ (truyền thống), chữ 茶 cũng đọc là "chá" như trong hình bên dưới